Bản án 101/2018/HNGĐ-ST ngày 16/08/2018 về xin ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK

BẢN ÁN 101/2018/HNGĐ-ST NGÀY 16/08/2018 VỀ XIN LY HÔN

Ngày 16 tháng 8 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 175/2018/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 3 năm 2018 về việc “Kiện xin ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số:96/2018/TLST-HNGĐ ngày 16/7/2018 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị H’B Niê - Sinh năm: 1993 (có mặt) Địa chỉ: Buôn K, phường T, Tp. B, tỉnh Đắk Lắk.

2. Bị đơn: Anh Y Q Êban - Sinh năm: 1988 (vắng mặt) Địa chỉ: Buôn K, phường T, Tp. B, tỉnh Đắk Lắk.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện và tại phiên tòa nguyên đơn chị H’B Niê trình bày:

Tôi và anh Y Q Êban tự nguyện kết hôn với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk vào ngày 08/10/2015.

Thời gian sống chung vợ chồng tôi thường xuyên bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp nhau, mâu thuẫn trầm trọng, mặc dù đã được gia đình hai bên đã hòa giải nhưng vợ chồng tôi vẫn không hòa hợp được. Chúng tôi đã sống ly thân từ tháng4/2017 cho đến nay không còn quan tâm, chăm sóc nhau. Do đó tôi yêu cầu Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với anh Y Q Êban.

Quá trình chung sống, vợ chồng tôi có 02 con chung là các cháu: H’N Niê - sinh ngày 25/8/2009 và Y T Niê - sinh ngày 14/7/2014. Tôi có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cả 02 cháu H’N và Y T đến tuổi trưởng thành.

Về cấp dưỡng nuôi con: Vợ chồng tôi tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn anh Y Q Êban cố tình lẩn tránh, không hợp tác với Tòa án để giảiquyết vụ án, quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tống đạt và niêm yết các văn bản tố tụng cho anh Y Q Êban theo đúng trình tự tố tụng dân sự, nhưng anh Y Q Êban đều vắng mặt không có lý do.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

 [1] Về thẩm quyền và quan hệ tranh chấp: Đây là vụ án “Kiện tranh chấp hôn nhân và gia đình” thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột theo quy định tại Điều 27, Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự.

 [2] Về nội dung: Ngày 08/10/2015 chị H’B Niê và anh Y Q Êban có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk trên cơ sở tự nguyện. Vì vậy đây là hôn nhân hợp pháp được quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.

Quá trình chung sống, chị chị H’B Niê cho biết vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn, bất đồng về quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung trong cuộc sống hôn nhân, vợ chồng hay xảy ra cãi vã nhau. Mâu thuẫn vợ chồng đã được gia đình, đoàn thể hòa giải nhiều lần nhưng không thành. Vợ chồng ly thân từ tháng 4/2017 cho đến nay không ai quan tâm chăm sóc nhau. Nay, đề nghị Toà án giải quyết cho chị H’B được ly hôn với anh Y Q Êban.

Qua kết quả xác minh tại địa phương cho biết vợ chồng chị H’B Niê và anh Y Q Êban thường xuyên xảy ra mâu thuẫn và đã được địa phương hoà giải nhiều lần nhưng không thành, nay chị H’B Niê xin ly hôn anh Y Q Êban đề nghị Tòa án xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật.

Hội đồng xét xử xét thấy: Tình cảm vợ chồng chị H’B Niê và anh Y Q Êban không còn Na, sống ly thân nhau không ai quan tâm chăm sóc lẫn nhau, nguyện vọng của chị H’B Niê xin được ly hôn với anh Y Q Êban là phù hợp theo Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, do đó cần được chấp nhận.

Về con chung: Vợ chồng chị H’B Niê và anh Y Q Êban có 02 con chung là các cháu: H’N Niê - sinh ngày 25/8/2009 và Y T Niê - sinh ngày 14/7/2014. Hiện nay các cháu còn nhỏ đang được chị H’B Niê chăm sóc, nuôi dưỡng, mặt khác nguyện vọng của cháu H’N Niê được ở với chị H’B Niê. Vì vậy cần chấp nhận yêu cầu của chị H’B Niê giao các cháu H’N Niê - sinh ngày 25/8/2009 và Y T Niê - sinh ngày 14/7/2014 cho chị H’B Niê trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ tuổi thành niên là phù hợp, anh Y Q Êban được quyền đi lại thăm nom chăm sóc con chung theo quy định tại các Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình.

Về cấp dưỡng nuôi con chị H’B Niê không yêu cầu nên không xem xét. Về tài sản chung không yêu cầu Tòa án giải quyết, nợ chung không có.

 [3] Về án phí: Chị H’B Niê phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ các Điều 27, Điều 35, Điều 227 BLTTDS; Áp dụng các Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân gia đình; Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định án phí lệ phí Tòa án.Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị chị H’B Niê. Chị H’B Niê được ly hôn với anh Y Q Êban.

Về con chung: Giao cháu H’N Niê - sinh ngày 25/8/2009 và Y T Niê - sinh ngày14/7/2014 cho chị H’B Niê trực tiếp nuôi dưỡng cho đến tuổi trưởng thành. Anh Y Q Êban được quyền đi lại thăm nom chăm sóc con chung.

Về cấp dưỡng nuôi con: chị H’B Niê không yêu cầu nên không xem xét. Về tài sản chung không yêu cầu Tòa án giải quyết, nợ chung không có.

Về án phí: Chị H’B Niê phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, được khấu trừ số tiền 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số AA/2017/0003318 ngày 09/3/2018 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố B.

Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 kể từ ngày tuyên án. Bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án hợp lệ.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự ./.


110
  • Tên bản án:
    Bản án 101/2018/HNGĐ-ST ngày 16/08/2018 về xin ly hôn
  • Số hiệu:
    101/2018/HNGĐ-ST
  • Cấp xét xử:
    Sơ thẩm
  • Lĩnh vực:
    Hôn Nhân Gia Đình
  • Ngày ban hành:
    16/08/2018
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 101/2018/HNGĐ-ST ngày 16/08/2018 về xin ly hôn

Số hiệu:101/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:16/08/2018
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về