Bản án 09/2020/HNGĐ-ST ngày 29/04/2020 về ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N, TỈNH ĐỒNG NAI

BẢN ÁN 09/2020/HNGĐ-ST NGÀY 29/04/2020 VỀ LY HÔN 

Ngày 29 tháng 4 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Đồng Nai mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 879/2019/TLST-HNGĐ ngày 30/12/2019 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 154/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 3 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 217/2020/QĐST-HNGĐ ngày 10/4/2020 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Kim H, sinh năm 1986.

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ 5, ấp N, xã V, huyện N, tỉnh Đồng Nai.

Chỗ ở hiện nay: Ấp Sơn Hà, xã V, huyện N, tỉnh Đồng Nai.

Bị đơn: Anh Nguyễn Tiến Đ, sinh năm 1980.

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ 5, ấp N, xã V, huyện N, tỉnh Đồng Nai.

 (Chị H, anh Đ vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 25/12/2019 và các lời khai tại hồ sơ, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kim H trình bày: Chị và anh Nguyễn Tiến Đ có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện N, tỉnh Đồng Nai và được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 180/2011, quyển số 01-2011 ngày 09 tháng 11 năm 2011. Việc kết hôn giữa chị và anh Đ trên cơ sở tự nguyện. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến tháng 6 năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, cuộc sống chung không hòa hợp, vợ chồng không quan tâm, chăm sóc lẫn nhau . Vợ chồng ly thân từ tháng 01 năm 2017 cho đến nay. Tháng 01 năm 2019, chị H đã nộp đơn khởi kiện ly hôn tại Tòa án nhân dân huyện N, sau đó rút đơn để vợ chồng đoàn tụ, hàn gắn. Tòa án đã ra Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hôn nhân gia đình số 21/2019/QĐST-HNGĐ ngày 28/02/2019. Thời gian trôi qua, hai vợ chồng vẫn không tìm được sự đồng cảm, lắng nghe và chia sẻ. Nhận thấy cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, tình cảm vợ chồng không còn nên chị H nộp đơn khởi kiện ly hôn với anh Nguyễn Tiến Đ.

Về con chung: Chị và anh Đ không có con chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị H khai không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Chị H có đơn xin xét xử vắng mặt đề ngày 28/4/2020.

Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản: Thông báo thụ lý vụ án, Giấy triệu tập, Thông báo giao nộp chứng cứ, Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho anh Nguyễn Tiến Đ nhưng anh Đ không cung cấp lời khai và cũng không đến Tòa án làm việc nên không ghi nhận được ý kiến

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa là đúng quy định của pháp luật. Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị H, xử cho chị H được ly hôn với anh Đ. Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Chị H khai không có nên không xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Chị Nguyễn Thị Kim H khởi kiện ly hôn anh Nguyễn Tiến Đ, anh Đ hiện đang cư trú tại tổ 5, ấp N, xã V, huyện N, tỉnh Đồng Nai (hộ ông Nguyễn Văn Lăng) nên vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện N đúng theo quy định tại Điều 28; điểm a, khoản 1, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Chị H có đơn xin xét xử vắng mặt; anh Đ đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa nhưng anh Đ vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt chị H và anh Đ.

[2] Về nội dung vụ án:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Kim H và anh Nguyễn Tiến Đ có đăng ký kết hôn, trên cơ sở tự nguyện và được Ủy ban nhân dân xã V, huyện N, tỉnh Đồng Nai cấp giấy chứng nhận kết hôn số 180/2011, quyển số 01-2011 ngày 09 tháng 11 năm 2011 nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nên chị H khởi kiện yêu cầu được ly hôn với anh Đ. Tại các biên bản làm việc tại Tòa, chị H vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện ly hôn với anh Đ.

Trong quá trình tố tụng, Tòa án đã nhiều lần triệu tập anh Đ đến Tòa án để lấy ý kiến và hòa giải để vợ chồng đoàn tụ nhưng anh Đ không chấp hành mà không có lý do, thể hiện anh Đ không có thiện chí hàn gắn xây dựng hạnh phúc gia đình.

Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Kim H là có cơ sở chấp nhận bởi lẽ: Trong đơn khởi kiện và quá trình làm việc tại Tòa, chị H đều cho rằng nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống dẫn đến cuộc sống hôn nhân không hòa hợp, vợ chồng không còn yêu thương, quan tâm và chăm sóc lẫn nhau. Chị H đã từng khởi kiện ly hôn tại Tòa án nhân dân huyện N và vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 1 năm 2017 cho đến nay. Chị H sau khi ly thân đã về ấp Sơn Hà, xã V sinh sống, còn anh Đ hiện đang sống chung cùng cha mẹ ruột tại ấp N, xã V, huyện N. Xét quan hệ hôn nhân giữa chị H và anh Đ đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị H, cho chị H được ly hôn với anh Đ là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

- Về con chung: Chị H khai chị và anh Đ không có con chung và cũng không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xét.

- Về tài sản chung, nợ chung: Chị H khai không có, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Về án phí: Chị H phải chịu 300.000 đồng án phí Dân sự sơ thẩm trong vụ án Hôn nhân gia đình theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227; khoản 1 Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000; Điều 56 và Điều 131 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận đơn khởi kiện về việc “Ly hôn” của chị Nguyễn Thị Kim H đối với anh Nguyễn Tiến Đ.

Xử cho chị Nguyễn Thị Kim H được ly hôn với anh Nguyễn Tiến Đ.

Về con chung; tài sản chung và nợ chung: Đương sự khai không có nên không xét.

2. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Kim H phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án hôn nhân gia đình nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0009923 ngày 25 tháng 12 năm 2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện N. Chị H đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.

3. Các đương sự được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

88
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 09/2020/HNGĐ-ST ngày 29/04/2020 về ly hôn

Số hiệu:09/2020/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Nhơn Trạch - Đồng Nai
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:29/04/2020
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về