Bản án 09/2019/HNGĐ-ST ngày 25/04/2019 về tranh chấp ly hôn, nuôi con

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN CẦU, TỈNH TÂY NINH

BẢN ÁN 09/2019/HNGĐ-ST NGÀY 25/04/2019 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN, NUÔI CON

Ngày 25 tháng 4 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bến Cầu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 354/2018/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 12 năm 2018 về tranh chấp ly hôn và nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2019/QĐXX-ST ngày 25 tháng 3 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 03/2019/QĐST-HNGĐ ngày 09 tháng 4 năm 2019, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Huỳnh Thị Ánh T, sinh năm 1997;

Đa chỉ cư trú: Ấp T, xã L, huyện B, tỉnh Tây Ninh. Có mặt.

2. Bị đơn: Anh Trà Văn K, sinh năm 1993;

Đa chỉ cư trú: Ấp B, xã A, huyện B, tỉnh Tây Ninh. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện đề ngày 29 tháng 10 năm 2018 và trong quá trình xét xử, nguyên đơn chị Huỳnh Thị Ánh T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh K có tìm hiểu, quen biết và chung sống với nhau vào năm 2012, hôn nhân tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện , tỉnh Tây Ninh vào ngày 04 tháng 01 năm 2016. Vợ chồng chị chung sống hạnh phúc đến khoảng năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh K thường xuyên chơi đánh bài ở casino, không lo lắng gì cho gia đình nên vợ chồng thường xuyên gây gỗ nhau, không quan tâm lẫn nhau, cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc nữa. Chị và anh K ly thân từ tháng 10 năm 2018 cho đến nay. Trong thời gian ly thân hai anh chị cũng không gặp nhau để hòa giải, hàn gắn gia đình được. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, không chung sống với nhau được nữa. Vì vậy, chị yêu cầu ly hôn với anh Trà Văn K.

Về con chung: Chị và anh K có một con chung tên Trà Thành Đ, sinh ngày 19 tháng 5 năm 2013, hiện tại cháu Đạt đang sống chung với chị. Nay ly hôn chị yêu cầu được nuôi con, chị không yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Chị trình bày không có nên không đặt ra giải quyết.

Đi với bị đơn- anh Trà Văn K:

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt, niêm yết thông báo thụ lý, thông báo kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhiều lần nhưng anh K không đến để trình bày theo yêu cầu của Tòa án cũng như không tham dự phiên hợp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải và xét xử mặc dù Công an xã An Thạnh xác nhận anh vẫn còn hộ khẩu ở địa phương, anh vẫn đi đi về về nhà nhưng cố tình vắng mặt không lý do. Nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh K theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Cầu tham gia phiên Tòa trình bày:

Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, thư ký và Hội đồng xét xử: Thẩm phán, thư ký thụ lý giải quyết đúng thẩm quyền, việc thu thập chứng cứ, chuẩn bị xét xử và ra quyết định đưa vụ án ra xét xử đều đảm bảo đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã chấp hành và thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn là anh K đã được tống đạt, niêm yết giấy triệu tâp hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh K là đúng theo quy định của pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Cầu chưa thấy vấn đề vi phạm tố tụng nên đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử theo quy định.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56 Luật hôn nhân và Gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Huỳnh Thị Ánh T, cho chị T được ly hôn với anh Trà Văn K. Về con chung: Áp dụng Điều 81, Điều 82 và Điều 83 giao cháu Trà Thành Đ, sinh ngày 19 tháng 5 năm 2013 cho chị T tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Chị T không yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung: Chị T, anh K không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét giải quyết. Về nợ chung: Chị T, anh K trình bày không có nên không đặt ra giải quyết. Về án phí hôn nhân sơ thẩm chị T phải chịu theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án do các bên cung cấp, qua kết quả thẩm tra các chứng cứ tại phiên tòa, ý kiến của kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Anh Trà Văn K được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không lý do. Do đó Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh K theo quy định tại Khoản 2 Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự là phù hợp theo quy định của pháp luật.

[2] Về hôn nhân: Chị T và anh K trên cơ sở tự nguyện và đi đến hôn nhân từ năm 2012 và có đăng ký kết hôn tại UBND xã An Thạnh, huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh vào ngày 04 tháng 01 năm 2016 nên hôn nhân của chị T và anh K là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.

Do mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị T có đơn xin ly hôn với anh K. Quá trình xác minh cho thấy, việc chị T và anh K thường xuyên gây gỗ nhau là có, hiện tại cả hai anh chị đã ly thân từ tháng 10-2018 cho đến nay. Trong thời gian ly thân cả hai cũng không có giải pháp khắc phục hàn gắn tình cảm vợ chồng. Mặt khác, anh K không chấp hành theo giấy triệu tập của tòa án, cố tình vắng mặt không đến, điều đó chứng tỏ anh không có thiện chí để hàn gắn tình cảm vợ chồng với chị T.

Nay xét thấy tình cảm vợ chồng giữa chị T và anh K đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài nên căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị T, cho chị T được ly hôn với anh K là phù hợp.

[3] Về con chung: Chị Huỳnh Thị Ánh T và anh Trà Văn K có 01 con chung tên Trà Thành Đ, sinh ngày 19 tháng 5 năm 2013. Nay ly hôn chị T yêu cầu được nuôi con chung. Hội đồng xét xử xét thấy, cháu Đ hiện còn nhỏ tuổi, cần sự chăm sóc và giáo dục của người mẹ và hiện tại cháu Đ đang sống chung với chị T, do vậy cần giao cháu Đ cho chị T tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục là phù hợp theo quy định tại Điều 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và Gia đình.

Về việc cấp dưỡng nuôi con chung sau ly hôn, chị T không yêu cầu anh K phải cấp dưỡng nuôi con. Dù Hội đồng xét xử đã giải thích quyền và nghĩa vụ của cha mẹ trong việc cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn cho chị T nghe nhưng chị T vẫn giữ nguyên ý kiến không yêu cầu anh K phải cấp dưỡng nuôi con chung do vậy nên ghi nhận.

Anh Trà Văn K có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở. .

[4] Về tài sản chung: Chị T xác định chị và anh K không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[5] Về nợ chung: Chị T xác định không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[6] Về án phí: Chị T phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Huỳnh Thị Ánh T với anh Trà Văn K.

Chị Huỳnh Thị Ánh T được ly hôn với anh Trà Văn K.

2. Về con chung: Giao cháu Trà Thành Đ, sinh ngày 19 tháng 5 năm 2013 cho chị Huỳnh Thị Ánh T tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Anh Trà Văn K không phải cấp dưỡng nuôi con do chị T không yêu cầu.

Anh Trà Văn K có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung: Chị Huỳnh Thị Ánh T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về nợ chung: Chị Huỳnh Thị Ánh T trình bày không có nên không đặt ra giải quyết.

5. Về án phí: Chị Huỳnh Thị Ánh T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và Gia đình sơ thẩm, khấu trừ số tiền tạm ứng án phí chị T đã nộp 300.000 đồng theo biên lai số 0021729 ngày 11 tháng 12 năm 2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh. Chị T đã nộp xong tiền án phí hôn nhân sơ thẩm.

Anh Trà Văn K không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.

Chị T có quyền kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án. Anh K có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

231
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 09/2019/HNGĐ-ST ngày 25/04/2019 về tranh chấp ly hôn, nuôi con

Số hiệu:09/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Bến Cầu - Tây Ninh
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành: 25/04/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về