Bản án 08/2021/HNGĐ-ST ngày 26/01/2021 về ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH PHÚ, TỈNH BẾN TRE

BẢN ÁN 08/2021/HNGĐ-ST NGÀY 26/01/2021 VỀ LY HÔN

Ngày 26 tháng 01 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thạnh Phú xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 510/2020/TLST–HNGĐ ngày 30 tháng 11 năm 2020 về việc tranh chấp “Ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2021/QĐXXST –HNGĐ ngày 15 tháng 01 năm 2021 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Lâm Thị Út R, sinh năm 1980, địa chỉ: 209/1 ấp TL, xã TH, huyện P, tỉnh Bến Tre. Chị R có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Anh Trần Văn D, sinh năm 1980, địa chỉ: 209/1 ấp TL, xã TH, huyện P, tỉnh Bến Tre. Anh D có yêu cầu xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện và trong quá trình tố tụng nguyên đơn Lâm Thị Út R trình bày:

Vào năm 2012 chị R và anh D tự nguyện chung sống như vợ chồng; đến năm 2013 chị R và anh D có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Thạnh Hải, huyện Thạnh Phú và được cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 01/02/2013. Trong thời gian chung sống anh, chị có 01 con chung tên Trần Thị Quỳnh N, sinh ngày 16/4/2013; hiện con chung đang sống chung với anh D. Chị R và anh D không tạo lập được tài sản chung; nợ chung: không có.

Lý do không còn sống chung: do chị R làm nghề buôn bán hải sản nên anh D thường xuyên ghen tuông vô cớ, vợ chồng xảy ra mâu thuẫn và cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc nữa nên anh, chị không còn sống chung khoảng 02 tháng. Gia đình hai bên có hàn gắn cho anh, chị nhưng không thành.

Nhận thấy tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được nên chị R có các yêu cầu sau:

- Về hôn nhân: chị R yêu cầu ly hôn với anh Trần Văn D. Sau khi ly hôn chị R không yêu cầu anh D phải cấp dưỡng cho chị R.

- Về con chung: chị R yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung tên Trần Thị Quỳnh N, sinh ngày 16/4/2013 và không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: chị R trình bày không có nên không yêu cầu giải quyết. Về nợ chung: chị R trình bày không có nên không yêu cầu giải quyết.

Theo nội dung biên bản lấy lời khai ngày 23/12/2020 anh Trần Văn D trình bày:

Vào năm 2012 anh D và chị R tự nguyện chung sống như vợ chồng; đến năm 2013 chị R và anh D có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Thạnh Hải, huyện Thạnh Phú và được cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 01/02/2013. Trong thời gian chung sống anh, chị có 01 con chung tên Trần Thị Quỳnh N, sinh ngày 16/4/2013; hiện con chung đang sống chung với anh D. Chị R và anh D không tạo lập được tài sản chung; nợ chung: không có.

Lý do không còn sống chung: do chị R tự ý bỏ nhà đi và không muốn chung sống với anh D nên anh D và chị R đã không còn sống chung khoảng 02 tháng.

Trước các yêu cầu của chị R, anh D có ý kiến sau:

- Về hôn nhân: anh D không đồng ý ly hôn với chị R.

- Về con chung: theo nguyện vọng của con chung; anh D không cấp dưỡng và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung: anh D trình bày không có nên không yêu cầu giải quyết.

- Về nợ chung: anh D trình bày không có nên không yêu cầu giải quyết. Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:

Về trình tự, thủ tục: Thẩm phán và Hội đồng xét xử sơ thẩm đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự từ khi thụ lý cho đến khi đưa vụ án ra xét xử và tại phiên tòa sơ thẩm. Trong quá trình tố tụng tại Tòa án nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, 71, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Căn cứ vào đơn khởi kiện và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, xét thấy: trong thời gian chung sống chị R, anh D đã phát sinh mâu thuẫn. Chị R và anh D đã không còn sống chung khoảng 02 tháng; mặc dù anh D không đồng ý ly hôn nhưng không đưa ra được biện pháp nào để hàn gắn tình cảm vợ chồng với chị R. Do đó có căn cứ xác định tình trạng hôn nhân giữa chị R, anh D đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 51, 53, 56, 81, 82, 83, 84, 115 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị R.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tranh tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

1 Về quan hệ pháp luật: Đây là vụ án “Tranh chấp ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

[2 Về thẩm quyền: Anh Trần Văn D có sinh sống và đăng ký hộ khẩu tại 209/1 ấp Thạnh Lợi, xã Thạnh Hải, huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre. Do đó vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thạnh Phú theo quy định tại khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[3] Về hôn nhân: chị Lâm Thị Út R và anh Trần Văn D kết hôn trên cơ sở tự nguyện, không bên nào bị lừa dối hoặc bị ép buộc, cả hai có đủ điều kiện kết hôn. Việc kết hôn có đăng ký tại Uỷ ban nhân dân xã Thạnh Hải và được cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 01/02/2013. Vì vậy quan hệ hôn nhân của chị R và anh D được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Nguyên nhân chị R xin ly hôn với anh D là do chị R làm nghề buôn bán hải sản nên anh D thường xuyên ghen tuông vô cớ, vợ chồng xảy ra mâu thuẫn và cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc. Gia đình hai bên có hàn gắn cho anh, chị nhưng không thành. Anh D cho rằng việc vợ chồng không còn sống chung là do chị R tự ý bỏ nhà đi và không muốn chung sống với anh D nên anh D và chị R đã không còn sống chung khoảng 02 tháng. Xét thấy: Hiện nay chị R và anh D không còn sống chung, không còn quan tâm chăm sóc cho nhau. Mặc dù anh D không đồng ý ly hôn với chị R nhưng anh D không đưa ra được các biện pháp để hàn gắn tình cảm vợ chồng với chị R và chị R cũng không đồng ý. Hơn nữa tại biên bản xác minh bà Huỳnh Thị N (là mẹ ruột chị Lâm Thị Út R), bà Nguyên trình bày “…Thời gian đầu hôn nhân hạnh phúc khoảng 02 tháng nay giữa chị R và anh D xảy ra mâu thuẫn và đã sống ly thân 02 tháng. Gia đình hai bên có động viên để chị R và anh D hàn gắn nhưng chị R không đồng ý…. Từ những cơ sở nêu trên có đủ căn cứ kết luận tình trạng mâu thuẫn trong hôn nhân giữa chị R và anh D đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị R là phù hợp.

[4] Về con chung: chị Lâm Thị Út R và anh Trần Văn D có 01 con chung tên Trần Thị Quỳnh N, sinh ngày 16/4/2013; khi ly hôn chị R yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung và không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con chung. Xét thấy hiện nay con chung Trần Thị Quỳnh N có nguyện vọng sống chung với chị R đồng thời cháu Quỳnh N có sự phát triển tốt về thể chất lẫn tinh thần. Lẽ đó cần giao con chung Trần Thị Quỳnh N cho chị Lâm Thị Út R trực tiếp nuôi là phù hợp với quy định tại Điều 81, 82, 84 Luật hôn nhân và gia đình. Do chị R không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[5] Do chị Lâm Thị Út R và anh Trần Văn D không yêu cầu nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[6] Về tài sản chung: chị R và anh D không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

7 Về nợ chung: chị R và anh D trình bày không có nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[8] Chị Lâm Thị Út R phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

[9] Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, 39, 147, Điều 227, Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 51, 53, 56, 81, 82, 83, 84, 115 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí của Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Lâm Thị Út R. Chị Lâm Thị Út R được ly hôn với anh Trần Văn D. Chị Lâm Thị Út R và anh Trần Văn D không yêu cầu nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn nên không xem xét giải quyết.

2. Về con chung: Chị Lâm Thị Út R được trực tiếp nuôi con chung tên Trần Thị Quỳnh N, sinh ngày 16/4/2013 (theo nguyện vọng của cháu Quỳnh N). Do chị Lâm Thị Út R không yêu cầu nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung nên không xem xét giải quyết.

Anh Trần Văn D có quyền thăm con, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con, khi cần thiết chị Lâm Thị Út R và anh Trần Văn D có thể yêu cầu thay đổi việc nuôi con chung và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung; chị Lâm Thị Út R và anh Trần Văn D có thể yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.

3. Về tài sản chung: chị R và anh D không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

4. Về nợ chung: chị R và anh D trình bày không có nên không xem xét giải quyết.

5. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm:

Chị Lâm Thị Út R phải nộp 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0005480 ngày 27/11/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạnh Phú và đã nộp xong.

Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.


26
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 08/2021/HNGĐ-ST ngày 26/01/2021 về ly hôn

Số hiệu:08/2021/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Thạnh Phú - Bến Tre
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:26/01/2021
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về