Bản án 08/2020/HS-ST ngày 16/09/2020 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy và mua bán trái phép chất ma túy

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỒ SƠN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

BẢN ÁN 08/2020/HS-ST NGÀY 16/09/2020 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY VÀ MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 16 tháng 9 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 08/2020/TLST-HS ngày 07 tháng 8 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2020/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 9 năm 2020, đối với bị cáo:

Đinh Đình N, sinh ngày 09 tháng 12 năm 1982 tại Hải Phòng; nơi cư trú: Tổ dân phố T, phường H, quận Đ, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đinh Đình H và bà Mai Thị Đ; chưa có vợ, con; tiền án: 01, Bản án số 96/2013/HSST ngày 14-6-2013 của Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xử phạt 48 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, tiền sự: Không; nhân thân: Bản án số 02/HS ngày 05-01-2004 của Tòa án nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng xử phạt 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (đã được xóa án tích); Bản án số 33/HSST ngày 03-12-2004 của Tòa án nhân dân quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng xử phạt 15 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (đã được xóa án tích); Bản án số 05/2008/HSST ngày 27-3-2008 của Tòa án nhân dân quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng xử phạt 18 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (đã được xóa án tích); bị tạm giữ ngày 21-4-2020, đến ngày 24-4-2020, chuyển tạm giam; có mặt.

- Người làm chứng:

1. Anh Đinh Xuân Tr; vắng mặt;

2. Chị Đinh Thị Thúy P; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

N là người nghiện chất ma túy. Khoảng 19 giờ, ngày 20-4-2020, N đi xe mô tô biển kiểm soát 16F6-2017 từ nhà đến đường tàu Mê Linh, Hải Phòng để mua Heroine với mục đích sử dụng cho bản thân và bán cho người khác. Khi đến đường tàu Mê Linh, N mua 800.000 đồng Heroine của một người phụ nữ không quen biết được một gói giấy bạc màu trắng bên trong có chứa Heroine. N đem về nhà sử dụng dao lam nhãn hiệu CROMA chia một phần Heroine trong gói giấy bạc thành bốn phần nhỏ và cho vào bốn đoạn ống hút màu tím rồi sử dụng chiếc bật lửa màu đỏ hàn kín hai đầu. N lấy giấy vệ sinh màu trắng cuộn 04 đoạn ống hút và gói giấy bạc cho vào một túi nilon màu trắng rồi đem cất giấu vào dưới bếp ga trong bếp nhà N.

Khoảng 16 giờ, ngày 21-4-2020, Đinh Xuân Tr, sinh năm 1983, nơi cư trú: Tổ dân phố Vinh Quang, phường Hải Sơn, quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng gọi điện thoại cho N hỏi mua 200.000 đồng Heroine, N đồng ý và hẹn Tr đến khu vực đầu tổ dân phố Dân Chủ, phường Hải Sơn, quận Đồ Sơn. Sau đó, N đi đến chỗ cất giấu ma túy lấy ra hai đoạn ống hút màu tím ở trong túi nilon rồi để một đoạn ống hút cạnh túi nilon, đoạn ống hút còn lại N mang đi bán cho Tr; số ma túy còn lại cất giấu dưới bếp ga, N sử dụng cho bản thân khi có nhu cầu. Khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày, N đi xe mô tô biển kiểm soát 16F6-2017 đến đầu tổ dân phố Dân Chủ, phường Hải Sơn, quận Đồ Sơn thì gặp Tr. Tr đưa cho N một tờ tiền Polyme mệnh giá 200.000 đồng, N cầm lấy rồi đưa cho Tr một đoạn ống hút màu tím bên trong có chứa Heroine rồi đi về nhà.

Hồi 16 giờ 40 phút, ngày 21-4-2020, Công an phường Hải Sơn phát hiện Đinh Xuân Tr sử dụng trái phép chất ma túy tại Công viên Đầm Vuông thuộc Tổ dân phố N, phường H, quận Đ, thành phố Hải Phòng. Tr khai nhận đã sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung Galaxy J4+, màu vàng liên lạc với Đinh Đình N để mua 01 đoạn ống hút màu tím bên trong chứa Heroin với giá 200.000 đồng rồi mang đến Công viên Đầm Vuông sử dụng. Khi Tr vừa sử dụng xong thì bị Công an phường Hải Sơn phát hiện, thu giữ của Tr: 01 bật lửa ga màu xanh, 01 tờ giấy bạc, 01 đoạn ống hút màu tím, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung Galaxy J4+, màu vàng.

Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, Công an quận Đồ Sơn tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Đinh Đình N, thu giữ: 01 đoạn ống hút màu tím chứa chất bột màu trắng (mẫu số 01); 01 túi nilon màu trắng, bên trong có: 01 cuộn giấy màu trắng, bên trong cuộn giấy có 02 đoạn ống hút màu tím chứa chất bột màu trắng và 01 gói giấy bạc bên trong có chất bột màu trắng (mẫu số 02); 40 đoạn ống hút màu tím; 01 dao lam nhãn hiệu CROMA. Quá trình làm việc, Công an quận Đồ Sơn còn thu giữ của N: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105, màu đen; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Ipnone 6, màu trắng bạc và số tiền 550.000 đồng.

Tại bản Kết luận giám định số 215/KLGĐ ngày 22-4-2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng kết luận: Chất bột của mẫu số 01 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,11 gam, là loại Heroine; chất bột của mẫu số 02 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 1,04 gam, là loại Heroine.

Tại bản Kết luận giám định số 427/KLGĐ ngày 10-7-2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng kết luận: Đoạn ống hút màu tím (thu giữ của Đinh Xuân Tr) gửi giám định tìm thấy dấu vết chất ma túy Heroine.

Bản Cáo trạng số 07/CT-VKS ngày 07-8-2020 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng đã truy tố bị cáo Đinh Đình N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự và tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

- Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa: Giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như nội dung bản Cáo trạng, truy tố đối với Đinh Đình N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và “Mua bán trái phép chất ma túy” và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, khoản 1 Điều 251, Điều 38, điểm a khoản 1 Điều 55, điêm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo với mức án từ 24 tháng đến 27 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, từ 33 tháng đến 36 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; tổng hợp hình phạt của hai tội bị cáo phải chịu từ 57 tháng đến 63 tháng tù. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự,

- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong 01 bật lửa ga màu xanh, 01 tờ giấy bạc; 01 (một) phong bì niêm phong 01 đoạn ống hút màu tím sau giám định; 01 (một) phong bì niêm phong chất ma túy (chứa mẫu số 01, 02) còn lại sau giám định; 01 (một) túi nilon niêm phong 40 đoạn ống hút màu tím; 01 (một) phong bì niêm phong 01 dao lam nhãn hiệu CROMA.

- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105, màu đen và 200.000 đồng tiền thu lợi bất chính.

- Trả lại cho bị cáo: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6, màu trắng bạc và số tiền 350.000 đồng không liên quan đến việc phạm tội nhưng cần tạm giữ 200.000 đồng để đảm bảo thi hành án.

Về án phí: Đề nghị áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Tại phiên tòa, bị cáo N khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung bản Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân quận Đồ Sơn đã truy tố và luận tội; việc điều tra, truy tố, xét xử đối với bị cáo là không oan sai; bị cáo không bị ép buộc khai báo không đúng sự thật. Bị cáo nhận thức hành vi của mình là sai, là vi phạm pháp luật, rất ăn năn hối hận và mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Đồ Sơn, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Đồ Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh và điều luật Viện Kiểm sát nhân dân quận Đồ Sơn truy tố đối với bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo Đinh Đình N khai báo thành khẩn về hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của những người làm chứng, phù hợp với vật chứng thu giữ, bản kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra và công bố công khai tại phiên tòa đã có đủ cơ sở xác định: Khoảng 16 giờ 30 phút, ngày 21-4-2020, bị cáo N đã có hành vi bán trái phép 01 đoạn ống hút chứa ma túy với giá 200.000 đồng cho Đinh Xuân Tr. Khoảng 17 giờ cùng ngày, Công an quận Đồ Sơn tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Đinh Đình N phát hiện bị cáo N đã có hành vi tàng trữ trái phép tổng khối lượng 1,15 gam Heroin (mẫu số 01 và mẫu số 02) nhằm mục đích chỉ để sử dụng cho bản thân. Bị cáo là người có đầy đủ khả năng điều khiển hành vi và nhận thức được việc bán trái phép chất ma túy và cất giữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, hành vi phạm tội của bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự và tội Mua bán trái phép chất ma túy quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nghiêm trọng, xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy, là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác, gây mất trật tự trị an tại địa phương nên cần xét xử nghiêm nhằm mục đích giáo dục, cải tạo đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Tại Bản án số 96/2013/HSST ngày 14-6-2013 của Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xử phạt bị cáo N 48 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, bị cáo chưa được xóa án tích đối với tiền án này mà tiếp tục phạm tội do cố ý nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại giai đoạn điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điêm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[6] Về hình phạt: Căn cứ vào quy định của Bộ luật Hình sự, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo có hành vi bán trái phép 01 đoạn ống hút chứa ma túy, đồng thời có hành vi tàng trữ trái phép ma túy là loại Heroin có khối lượng 1,15 gam; bị cáo là người nghiện ma túy từ năm 2006, có một tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; ngoài 01 tiền án chưa được xóa án tích, nhân thân bị cáo còn có 03 tiền án đều về tội trộm cắp tài sản mặc dù đã được xóa án tích nhưng thể hiện bị cáo là người không có ý thức sửa chữa sai lầm, coi thường pháp luật. Vì vậy, cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn trên mức khởi điểm của khung hình phạt của 02 tội tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân bị cáo, buộc bị cáo phải cách ly xã hội một thời gian mới đủ sức răn đe đối với bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.

[7] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249, khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự đều quy định “người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng”. Tuy nhiên, xét thấy các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện bị cáo không có việc làm, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo là phù hợp.

[8] Về xử lý vật chứng: 01 bật lửa ga màu xanh, 01 tờ giấy bạc, 01 đoạn ống hút màu tím sau giám định, số ma túy (mẫu số 01, 02) còn lại sau giám định, 40 đoạn ống hút màu tím, 01 dao lam nhãn hiệu CROMA là công cụ, phương tiện bị cáo dùng để phạm tội, là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành và không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105, màu đen là công cụ, phương tiện bị cáo dùng để phạm tội và 200.000 đồng tiền thu lợi bất chính cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6, màu trắng bạc và 350.000 đồng thu giữ của bị cáo không liên quan đến việc phạm tội cần trả lại cho bị cáo nhưng cần tạm giữ 200.000 đồng để đảm bảo thi hành án.

[9] Đối với xe mô tô BKS 16F6-2017, điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung Galaxy J4+, màu vàng, Cơ quan cảnh sát Điều tra Công an quận Đồ Sơn đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là có căn cứ nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[10] Đối với Đinh Xuân Tr có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nên Công an quận Đồ Sơn xử phạt hành chính là đúng.

[11] Đối với người phụ nữ đã bán ma túy cho Đinh Đình N, hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch, địa chỉ. Vì vậy, Cơ quan cảnh sát Điều tra Công an quận Đồ Sơn không có căn cứ để điều tra làm rõ.

[12] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[13] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, khoản 1 Điều 251, Điều 38, điểm a khoản 1 Điều 55, điêm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đinh Đình N 24 (Hai mươi bốn) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; 36 (Ba mươi sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt của hai tội buộc bị cáo Đinh Đình N phải chấp hành hình phạt chung là 60 (Sáu mươi) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 21-4-2020.

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong 01 bật lửa ga màu xanh, 01 tờ giấy bạc; 01 (một) phong bì niêm phong 01 đoạn ống hút màu tím sau giám định số 427/2020/PC09; 01 (một) phong bì niêm phong chất ma túy (chứa mẫu số 01, 02) còn lại sau giám định số 215/2020/PC09; 01 (một) túi nilon niêm phong 40 đoạn ống hút màu tím; 01 (một) phong bì niêm phong 01 dao lam nhãn hiệu CROMA.

Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105, màu đen và 200.000 đồng tiền thu lợi bất chính.

Trả lại cho bị cáo 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6, màu trắng bạc và 350.000 đồng nhưng cần tạm giữ 200.000 đồng để đảm bảo thi hành án.

(Theo biên bản giao, nhận vật chứng, tài sản ngày 11-8-2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng và Biên lai thu tiền số AA/2010/6267 ngày 11/8/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Đồ Sơn).

- Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo bản án: Căn cứ vào Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự:  Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.


13
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 08/2020/HS-ST ngày 16/09/2020 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy và mua bán trái phép chất ma túy

Số hiệu:08/2020/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Quận Đồ Sơn - Hải Phòng
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:16/09/2020
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về