Bản án 08/2019/HS-ST ngày 25/02/2019 về tội trộm cắp tài sản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH, TỈNH NINH BÌNH

BẢN ÁN 08/2019/HS-ST NGÀY 25/02/2019 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 25 tháng 02 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Ninh Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 24/2019/TLST-HS ngày 30 tháng 01 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2019/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 02 năm 2019 đối với bị cáo:

Trần Văn H sinh năm 1984 tại Ninh Bình; Nơi cư trú: thôn ĐK, xã GT, huyện GV, tỉnh Ninh Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 5/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Thiên chúa giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn L và bà Trần Thị C; Vợ: Trần Thị N và 04 con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 28/11/2018 đến nay. Có mặt.

Bị hại: Anh Mai Văn T, sinh năm 1978; Nơi cư trú: Số nhà H, ngõ B, đường TĐ, phố BS, phường TB, thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình. “Vắng mặt”.

- Người làm chứng: Chị Mai Thị N, anh Trần Văn B, anh Đoàn Văn Q, chị Trần Thị N.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 19/11/2018, Trần Văn H đi cùng anh Trần Văn B sinh năm 1984, trú tại Thôn ĐK, xã GT, huyện GV, tỉnh Ninh Bình (là em họ của H) đến quán thịt chó của anh Mai Văn T sinh năm 1978 có địa chỉ tại số nhà K (nay là Số nhà H), ngõ B đường TĐ, phố BS, phường TB, thành phố Ninh Bình để mua hàng. Trong lúc chờ anh T bán hàng, H đứng cạnh chiếc tủ lạnh được kê sát tường phía bên phải trong quán, quan sát thấy trên tủ lạnh có 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Apple Iphone 6 Plus của anh T đang để đó H nảy sinh ý định chiếm đoạt. H lấy chiếc điện thoại bỏ vào túi quần bên trái đang mặc sau đó ra khỏi quán điều khiển xe mô tô để đi về nhà. Sau khi H ra khỏi quán thì cháu Mai Thị N sinh năm 2002 là con gái anh T hỏi anh T xem chiếc điện thoại của anh T đâu, anh T kiểm tra thì phát hiện chiếc điện thoại đã bị mất. Do nghi ngờ H lấy trộm điện thoại của mình nên anh T đã yêu cầu anh B gọi điện thoại cho H nói nếu H trót lấy trộm điện thoại thì mang về quán trả lại. H nghe điện thoại biết việc mình lấy trộm chiếc điện thoại đã bị phát hiện nên H mang chiếc điện thoại vừa lấy trộm được đến cửa hàng bán xăng dầu Non Nước tại phố B phường ĐT, thành phố Ninh Bình đưa cho anh Đoàn Văn Q sinh năm 1972 trú tại xóm B, xã KT, huyện YK, tỉnh Ninh Bình là nhân viên đứng bán xăng và nói “cho em gửi cái điện thoại, lát nữa có người qua lấy”. Sau đó H gọi điện thoại cho chị Trần Thị N sinh năm 1973, trú tại thôn VT, xã NP, thành phố Ninh Bình (là cô ruột của H) nói về việc mình đã lấy trộm chiếc điện thoại ở quán thịt chó bị phát hiện nhưng sợ không dám mang điện thoại đến trả lại nên gửi chiếc điện thoại ở cây xăng Non Nước và nhờ chị N ra lấy mang về quán trả lại cho anh T, rồi H điều khiển xe đi về nhà ở xã GT, huyện GV, tỉnh Ninh Bình. Còn anh T sau đó đã đến Công an phường TB, thành phố Ninh Bình trình báo sự việc. Khoảng 14 giờ 15 phút cùng ngày, chị Trần Thị N đến cây xăng Non Nước lấy chiếc điện thoại di động Apple Iphone 6 Plus mà H gửi lại rồi mang đến Công an phường TB giao nộp.

Tại Kết luận định giá tài sản số 81/KL-HĐ ngày 20/11/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND thành phố Ninh Bình kết luận chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Apple Iphone 6 Plus có giá trị là 5.200.000 đồng.

Tại bản cáo trạng số 28/CT-VKS ngày 28/01/2019, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình truy tố Trần Văn H ra trước Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình để xét xử về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1, khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, Kiểm sát viên tham gia phiên toà giữ nguyên quyết định như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Trần Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Trần Văn H từ 9 đến 12 tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày Ủy ban nhân dân xã GT, huyện GV, tỉnh Ninh Bình nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án. Giao bị cáo Trần Văn H cho Ủy ban nhân dân xã GT, huyện GV, tỉnh Ninh Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thi hành án. Gia đình bị cáo Trần Văn H có trách nhiệm phối hợp cùng chính quyền địa phương giám sát, giáo dục bị cáo.

Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát. Trong lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tại phiên toà, bị cáo Trần Văn H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình đã truy tố bị cáo ra trước toà. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai người bị hại, lời khai người làm chứng, vật chứng thu giữ, kết luận định giá tài sản và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên toà. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 19/11/2018 tại Số nhà H ngõ B đường TĐ, phố BS, phường TB, thành phố Ninh Bình, Trần Văn H đã lợi dụng sơ hở, trộm cắp 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Apple Iphone 6 Plus màu vàng trị giá 5.200.000 đồng của anh Mai Văn T. Hành vi của Trần Văn H đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự. Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình truy tố Trần Văn H với tội danh và khung hình phạt nêu trên là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo đã xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật công nhận, bảo vệ. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi chiếm đoạt của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Ngoài việc xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của người khác, hành vi của bị cáo còn gây mất an ninh trật tự, ảnh hưởng xấu đến đời sống nhân dân. Để bảo vệ trật tự xã hội, có tác dụng giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung thì việc truy tố, đưa ra xét xử, buộc bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự là cần thiết.

[2] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo là người không có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; được người bị hại xin giảm nhẹ một phần hình phạt những tình tiết này được xem xét để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo theo quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2, Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Căn cứ quy định của Bộ luật Hình sự, cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Hội đồng xét xử thấy không cần thiết áp dụng hình phạt tù, cho bị cáo cải tạo tại địa phương dưới sự giám sát của chính quyền cũng đủ điều kiện để bị cáo tự cải tạo trở thành con người tốt, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật.

[3] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có công việc làm ổn định, thu nhập bấp bênh nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền và miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo.

[4] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Ninh Bình đã thu hồi 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Apple Iphone 6 Plus và trả lại cho anh Mai Văn T là chủ sở hữu theo quy định.

Anh T đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu, đề nghị gì khác. Vì vậy về trách nhiệm dân sự không đặt ra giải quyết.

[5] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[6] Quyền kháng cáo: Bị cáo; bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

[7] Hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử là hợp pháp, đúng thẩm quyền, đúng trình tự quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: bị cáo Trần Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Trần Văn H 9 (Chín) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày Ủy ban nhân dân xã GT, huyện GV, tỉnh Ninh Bình nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án. Giao bị cáo Trần Văn H cho Ủy ban nhân dân xã GT, huyện GV, tỉnh Ninh Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thi hành án. Gia đình bị cáo Trần Văn H có trách nhiệm phối hợp cùng chính quyền địa phương giám sát, giáo dục bị cáo.

2. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo Trần Văn H phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án (25/02/2019); bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định của Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.


73
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 08/2019/HS-ST ngày 25/02/2019 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:08/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Ninh Bình - Ninh Bình
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 25/02/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về