Bản án 08/2019/HS-ST ngày 04/03/2019 về tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN LÃO, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

BẢN ÁN 08/2019/HS-ST NGÀY 04/03/2019 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 04 tháng 3 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận huyện An Lão, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số08/2019/TLST- HS ngày 28 tháng 01 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 166/2019/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 02 năm 2019 đối với bị cáo:

Phạm Văn H, sinh ngày 11 tháng 5 năm 1986, tại Hải Phòng; đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn H, xã Q, huyện A, thành phố Hải Phòng; nơi ở: Thôn Q, xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; con ông Phạm Văn T và con bà Phạm Thị N; bị cáo chưa có vợ con; tiền sự: Năm 2004 bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản; năm 2011 bị đưa vào cai nghiện bắt buộc tại Trung tâm giáo dục - Lao động xã hội số 2 thành phố Hải Phòng (đều đã được xóa); tiền án: Tại bản án hình sự số 08/2005/HSST ngày 09 tháng 3 năm 2005, Tòa án nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng xử phạt 06 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản"; bản án hình sự số 44/2005/HSST ngày 28 tháng 12 năm 2005, Tòa án nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng xử phạt 15 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản"; bản án hình sự số 30/2007/HSST ngày 29 tháng 06 năm 2007, Tòa án nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng xử phạt 24 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản" (đều đã được xóa án tích) và bản án hình sự số 28/2016/HSST ngày 03 tháng 11 năm 2016, Tòa án nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng xử phạt 18 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản". Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 07 tháng 4 năm 2018 (tiền án này chưa được xóa). Bị cáo bị tạm giam từ ngày 25 tháng 12 năm 2018; có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Bà Bùi Thị D, sinh năm 1957, trú tại: Thôn V, xã T, huyện A, thành phố Hải Phòng; vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 9 giờ ngày 29 tháng 10 năm 2018, Phạm Văn H đi bộ từ xã A, huyện An Lão, thành phố Hải Phòng sang thôn V, xã T, huyện A, thành phố Hải Phòng mục đích xem nhà nào sơ hở để vào trộm cắp tài sản. Khi H đi đến nhà bà Bùi Thị D thấy cổng không khóa và có một chiếc xe đạp mi ni hai gióng màu đỏ dựng ở gian nhà dưới không khóa, không thấy ai ở nhà, H lẻn vào dắt chiếc xe đạp ra ngoài cổng và đạp về hướng thôn L, xã T, huyện A, thành phố Hải Phòng. Bà D phát hiện mất xe đạp hô hoán đuổi theo, bị cáo đạp xe đến ngã tư đình thôn K, xã T, huyện A, thành phố Hải Phòng thì bị bắt.

Tại kết luận định giá tài sản số 15/KL-ĐG ngày 15 tháng 11 năm 2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện An Lão kết luận: chiếc xe đạp mimi hai gióng màu đỏ có lồng xe màu đen, thân khung xe bong tróc sơn và nhiều lỗ han rỉ, trị giá 1.000.000đ (một triệu đồng).

Về vật chứng: Chiếc xe đạp mini hai gióng màu đỏ, cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện An Lão đã trả lại cho bà Phạm Thị D.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như trên.

Bản Cáo trạng số 11/CT-VKS ngày 28 tháng 01 năm 2019 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng đã truy tố Phạm Văn H về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Lão vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt Phạm Văn H mức án từ 15 tháng đến 18 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản"; về hình phạt bổ sung: không áp dụng phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự; về trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã nhận lại tài sản và không đề nghị về phần dân sự đối với bị cáo nên không xem xét; bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đãđược tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tố tụng:

 [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện An Lão, thành phố Hải Phòng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện An Lão thành phố Hải Phòng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra bị cáo, người bị hại và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

- Về tội danh:

 [2] Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai người bị hại, người làm chứng, đồng thời phù hợp với tang vật vụ án đã thu giữ được, cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét công khai tại phiên tòa đã đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 9 giờ ngày 29 tháng10 năm 2018, Phạm Văn H có hành vi lén lút chiếm đoạt chiếc xe đạp mi ni hai gióng màu đỏ của bà Bùi Thị D trị giá 1.000.000đ (một triệu đồng). Bị cáo là người có nhân thân xấu: năm 2004 bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản, năm 2011 bị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, hai tiền án về tội: "Trộm cắp tài sản" (đều đã được xóa). Năm 2016 bị cáo đã bị kết án về tội: "Trộm cắp tài sản" chưa được xóa án tích, lại tiếp tục trộm cắp chiếc xe đạp có giá trị dưới 2.000.000 đồng nên phải chịu trách nhiệm hình sự về tội: "Trộm cắp tài sản" theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

 [3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an xã hội. Do đó cần phải xử phạt bị cáo theo mức án đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp, tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ tác dụng cải tạo và giáo dục bị cáo và đáp ứng yêu cầu phòng ngừa chung.

 [4] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

 [5] Về tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

 [6] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là đối tượng nghiện hút, không có thu nhập, không có tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

 [7] Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại bà Bùi Thị D đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bị cáo bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.

 [8] Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Xử phạt: Bị cáo Phạm Văn H 18 (mười tám) tháng tù về tội: "Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 25 tháng 12 năm 2018.

Về án phí: Bị cáo Phạm Văn H phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo bản án: Bị cáo Phạm Văn H có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại Bà Bùi Thị D có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.


95
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 08/2019/HS-ST ngày 04/03/2019 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:08/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện An Lão - Hải Phòng
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:04/03/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về