Bản án 08/2019/HNGĐ-ST ngày 31/07/2019 về tranh chấp hôn nhân và gia đình

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ V, TỈNH VĨNH PHÚC

BẢN ÁN 08/2019/HNGĐ-ST NGÀY 31/07/2019 VỀ TRANH CHẤP HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

Ngày 31 tháng 7 năm 2019 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục thông thường vụ án thụ lý số: 89/2019/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 4 năm 2019 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2019/QĐXX-ST ngày 21 tháng 6 năm 201 9, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1981; địa chỉ: Ngõ 15, đường ML, khu hành chính 3, phường LB, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc (có mặt).

Bị đơn: Anh Nguyễn Văn C, sinh năm 1979; địa chỉ: Ngõ 15, đường ML, khu hành chính 3, phường LB, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 25 tháng 01 năm 2019 và những lời khai tiếp theo, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Văn C kết hôn với nhau ngày 19/4/2005, trên cơ sở được tự do tìm hiểu, tự nguyện và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường LB, thành phố V. Sau khi kết hôn chị về sống cùng gia đình anh C tại phường LB, thành phố V. Quá trình chung sống, tình cảm vợ chồng ban đầu hòa thuận, hạnh phúc. Đến tháng 7/2017, vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình không hợp dẫn tới thường xuyên xảy ra va chạm, xô sát. Chị có làm đơn xin ly hôn anh C nhưng được Tòa án phân tích, hòa giải chị đã rút đơn để vợ chồng đoàn tụ nhưng tình cảm vợ chồng vẫn không cải thiện, vợ chồng vẫn sống ly thân từ đó đến nay và không còn quan tâm gì đến nhau. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn và đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh C.

Về con chung: Vợ chồng có hai con chung là Nguyễn Thu H, sinh ngày 11/02/2006 và Nguyễn Ngọc L, sinh ngày 12/11/2014. Hiện nay các cháu đang ở cùng chị. Ly hôn chị đề nghị được tiếp tục nuôi dưỡng cả 02 con chung và không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản và các vấn đề khác: Chị Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn là anh Nguyễn Văn C đã được Tòa án đã làm các thủ tục triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng anh C vẫn vắng mặt không có lý do.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố V đề nghị hội đồng xét xử: Áp dụng Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình: Cho chị Nguyễn Thị H ly hôn anh Nguyễn Văn C; giao chị Nguyễn Thị H được tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục 02 con chung. Anh C không phải cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền thăm nom con chung không ai được ngăn cản. Chị H phải chịu tiền án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Chị Nguyễn Thị H khởi kiện xin ly hôn anh Nguyễn Văn C và đề nghị giải quyết nuôi con chung nên đây là vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình. Bị đơn là anh C hiện đang cư trú tại phường LB, thành phố V nên theo quy định tại các Điều 28, 35, 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố V. Bị đơn vắng mặt lần thứ 2 không có lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Văn C kết hôn với nhau ngày 19/4/2005, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường LB, thành phố V trên cơ sở được tìm hiểu và tự nguyện. Đây là hôn nhân hợp pháp, tiến bộ. Quá trình chung sống tình cảm vợ chồng hòa thuận đến tháng 7/2017 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình không hợp nên thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Anh chị đã sống ly thân từ tháng 7/2017 đến nay và không còn quan tâm gì đến nhau. Trong thời gian sống ly thân, chị H và anh C không có biện pháp gì hàn gắn tình cảm vợ chồng. Quá trình giải quyết vụ án, anh C biết việc chị H làm đơn xin ly hôn nhưng anh C không quan tâm và bỏ mặc để chị H giải quyết. Thể hiện anh C không quan tâm gì đến chị H cũng như việc hàn gắn tình cảm, hạnh phúc gia đình. Như vậy, có thể thấy tình trạng hôn nhân giữa chị H, anh C đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài và mục đích hôn nhân không đạt được. Hội đồng xét xử thấy cần chấp nhận yêu cầu của chị H và cho chị H được ly hôn anh C là phù hợp.

[3] Về con chung: Chị H, anh C có hai con chung là Nguyễn Thu H, sinh ngày 11/02/2006 và Nguyễn Ngọc L, sinh ngày 12/11/2014. Qua xác minh tại Chính quyền địa pH và mẹ anh C, chị H thấy anh C hiện nay đang làm nghề lái xe, thu nhập không ổn định và thường xuyên vắng nhà. Chị H có công việc tại địa pH, có thu nhập và nơi cư trú ổn định. Hiện nay, các cháu đang do chị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Để tránh xáo trộn trong cuộc sống, học tập, sinh hoạt của các cháu nên cần giao 02 cháu cho chị H được tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục và anh C không phải cấp dưỡng nuôi con chung theo yêu cầu của chị H là phù hợp và cũng phù hợp với nguyện vọng của cháu H.

[4] Về tài sản và các vấn đề khác: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết, đồng thời quá trình giải quyết vụ án anh C vắng mặt, không có quan điểm gì. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết trong vụ án này mà sẽ xem xét giải quyết bằng một vụ án khác khi có yêu cầu.

[5] Về án phí: Chị H phải chịu tiền án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

[1] Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị H ly hôn anh Nguyễn Văn C.

[2] Về nuôi con chung: Giao chị Nguyễn Thị H được tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung là Nguyễn Thu H, sinh ngày 11/02/2006 và Nguyễn Ngọc L, sinh ngày 12/11/2014. Anh Nguyễn Văn C không phải cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền thăm nom con chung không ai được ngăn cản.

[3] Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồngtiền án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai số AA/2017/0004384 ngày 18 tháng 4 năm 2019 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố V. Chị Nguyễn Thị H đã nộp đủ tiền án phí ly hôn sơ thẩm.

[4] Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc niêm yết Bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xét xử phúc thẩm.


12
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 08/2019/HNGĐ-ST ngày 31/07/2019 về tranh chấp hôn nhân và gia đình

Số hiệu:08/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Vĩnh Yên - Vĩnh Phúc
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 31/07/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về