Bản án 08/2018/HS-ST ngày 19/04/2018 về tội vi phạm quy định ĐKPTGTĐB

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG

BẢN ÁN 08/2018/HS-ST NGÀY 19/04/2018 VỀ TỘI VI PHẠM QUY ĐỊNH ĐKPTGTĐB

Ngày 19 tháng 4 năm 2018 tại Toà án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 08/2018/TLST- HS ngày 02 tháng 3 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2018/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 3 năm 2018 đối với bị cáo: 

Trần Văn H-bc (T1), sinh năm 1982, tại huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang. Nơi cư trú ấp 9C, xã ĐH, huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang; nghề nghiệp mua bán; trình độ văn hoá 2/12; quốc tịch Việt Nam; dân tộc Kinh; giới tính nam; tôn giáo không; con ông Trần Văn T2, sinh năm 1939 (đã chết) và bà Huỳnh Kim L1 (Lý Thị X); vợ chưa có; tiền án không, tiền sự không; bị bắt tạm giam từ ngày 16-11-2017 cho đến nay (có mặt).

- Bị hại: Anh Phạm Thành H-bh, sinh ngày 24/8/2000 (đã chết) Cư trú: ấp TTA, xã ĐT, huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang

- Người đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Phạm Thành L2 (Hoàng), sinh năm 1970 và bà Trịnh Hồng H1, sinh năm 1972 (là cha, mẹ ruột bị hại Phạm Thành H-bh), (Có mặt).

Cùng cư trú: ấp TTA, xã ĐT - An Minh - Kiên Giang

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ 20 phút ngày 03/7/2017, Trần Văn H-bc điều khiển xe môtô mang biển kiểm soát 92F8-1707 trên đường tỉnh lộ 967 đi từ hướng thị trấn Thứ 11 về hướng Thứ 7, huyện An Biên, khi vừa qua dốc cầu Kênh Quảng Điển thuộc ấp 9X, xã ĐH, huyện An Minh thì H-bc nhìn thấy một xe môtô đi ngược chiều pha đèn sáng làm H-bc chói mắt, Trần Văn H-bc tiếp tục điều khiển cho xe chạy thẳng vể phía trước, lạc tay lái qua bên trái theo chiều hướng đi của H-bc làm phương tiện của H-bc va chạm trực diện vào xe môtô mang biển kiểm soát 68FA-001.16 do Phạm Thành H-bh, sinh năm 2000 cư trú ấp TTA, xã ĐT, huyện An Minh điều khiển theo chiều ngược lại từ hướng Thứ 7, huyện An Biên về thị trần Thứ 11. Vụ va chạm làm H-bc bị xay xát nhẹ còn Phạm Thành H-bh bị chấn thương ở vùng đầu, được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Kiên Giang đến ngày 11/7/2017  thì Phạm Thành H-bh tử vong. Sau vụ tai nạn xảy ra, qua công tác khám nghiệm hiện trường vụ tai nạn giao thông cho thấy mặt lộ rộng 4.6m; từ tâm bánh xe sau của xe 92F8-1707 vào mép đường chuẩn bên phải là 2.77m; từ tâm bánh xe trước của xe 92F8-1707 vào mép đường chuẩn bên phải là 3.45m; từ tâm bánh xe trước của xe 68FA- 001.16 vào mép đường chuẩn bên phải là 3.75m; từ tâm bánh xe sau của xe 68FA-001.16 vào mép đường chuẩn bên phải là 2.70m, vùng đụng của hai phương tiện nằm phần đường bên trái so với hướng di chuyển của xe Trần Văn H-bc đã điều khiển mang biển kiểm soát 92F8-1707, phù hợp với những dấu vết để lại trên mặt đường chứng minh Trần Văn H-bc đã “Không cho xe đi về bên phải theo chiều xe chạy của mình vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 17 Luật Giao thông đường bộ”.

Ngoài ra, sau khi tai nạn xảy ra giữa hai xe môtô Cơ quan công an tiến hành kiểm tra nồng độ cồn trong hơi thở của Trần Văn H-bc cho kết quả nồng độ cồn vượt quá 0,4 miligam/lít khí thở là 0,735 miligam/lít khí thở, Trần Văn H-bc không mang theo giấy chứng nhận đăng ký xe. Đồng thời Trần Văn H-bc không có bằng lái xe hoặc giấy phép lái xe theo quy định. Tại Cơ quan điều tra Trần Văn H-bc thừa nhận toàn bộ hành vi vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ gây tai nạn giao thông làm Phạm Thành H-bh tử vong.

Tại bản kết luận giám định pháp y tử thi số 411/KL-KTHS ngày 22 tháng 8 năm 2017 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Kiên Giang kết luận: Phạm Thành H-bh, sinh năm 2000, nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: ấp TTA, xã ĐT, huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang tử vong do chấn thương sọ não nặng.

Về vật chứng: Tại hiện trường vụ tai nạn Cơ quan Công an đã tạm giữ 01 (một) xe môtô mang biển kiểm soát 92F8-1707; 01 (một) xe gắn máy mang biển kiểm soát 68FA-001.16 và 01 (một) Giấy chứng nhận đăng ký xe mang biển kiểm soát 68FA-001.16. Trong quá trình giải quyết vụ án Cơ quan điều tra đã trả lại cho bị can Trần Văn H-bc nhận vào ngày 24/01/2018 và bà Trịnh Hồng H1 là mẹ ruột của Phạm Thành H-bh nhận vào ngày 17/12/2017.

Về trách nhiệm dân sự: Đại diện gia đình nạn nhân Phạm Thành H-bh (cha mẹ ruột) là ông Phạm Thành L2 và bà Trịnh Hồng H1 yêu cầu Trần Văn H- bc phải bồi thường chi phí điều trị thương tích, mai táng phí, ngày công lao động và tiền tổn thất tinh thần tổng cộng là 173.239.899 đồng. Bị can Trần Văn H-bc và gia đình đồng ý bồi thường số tiền như yêu cầu, hiện tại đã bồi thường được số tiền 25.000.000 đồng cho gia đình nạn nhân. Ông L2 bà H1 tiếp tục yêu cầu H-bc bồi thường số tiền còn lại là 148.239.899 đồng, ngoài ra không còn yêu cầu gì thêm.

Tại Cáo trạng số 08/CT-VKSAM-HS ngày 02-3-2018 Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang truy tố Trần Văn H-bc về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” theo điểm a, b khoản 2 Điều 202 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên kết luận bị cáo Trần Văn H-bc phạm tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ và đề nghị áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 202 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009, điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 54, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo Trần Văn H-bc 02 năm 06 tháng tù đến 03 năm tù; Xử lý vật chứng: Không có;

Về dân sự, bị cáo đồng ý bồi thường chi phí điều trị thương tích, mai táng phí, ngày công lao động và tiền tổn thất tinh thần tổng cộng là 173.239.899 đồng đúng theo yêu cầu của người đại diện hợp pháp của bị hại nêu ra. Hiện bị cáo đã bồi thường được 25.000.000 đồng, còn lại 148.239.899 đồng chưa bồi thường vì hoàn cảnh gia đình khó khăn. Vì vậy, đề nghị ghi nhận.

- Bị cáo Trần Văn H-bc thừa nhận bản thân thực hiện hành vi như Cáo trạng đã nêu và kết luận của Kiểm sát viên tại phiên tòa, đồng ý tiếp tục bồi thường 148.239.899 đồng cho đại diện hợp pháp của bị hại. Tuy nhiên hiện nay hoàn cảnh gia đình khó khăn nên bị cáo chưa bồi thường, khi nào có tiền bị cáo sẽ bồi thường.

- Ông Phạm Thành L2 và bà Trịnh Hồng H1 là người đại diện hợp pháp của bị hại trình bày: yêu cầu bồi thường 173.239.899 đồng, đã được bồi thường 25.000.000 đồng, còn lại 148.239.899 đồng. Về trách nhiệm hình sự: không có yêu cầu gì, đề nghị xét xử theo quy định của pháp luật.

- Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo rất hối hận về hành vi của bản thân gây ra, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo về sớm lo cho mẹ già.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện An Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện An Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa bị cáo Trần Văn H-bc khai nhận đã thực hiện hành vi như Cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai trước đó tại cơ quan điều tra, phù hợp với các chứng cứ khác. Từ đó, có đủ cơ sở để xác định: Ngày 03/7/2017 bị cáo điều khiển xe môtô biển kiểm soát 92F8-1707, trên đường tỉnh lộ 967 đi từ hướng thị trấn Thứ 11, huyện An Minh về hướng Thứ 7, huyện An Biên. Khi vừa qua dốc cầu Kênh Quảng Điển thuộc ấp 9X, xã ĐH, huyện An Minh thì xảy ra va chạm với xe môtô biển kiểm soát 68FA-001.16 do anh Phạm Thành H-bh điều khiển theo chiều ngược lại từ hướng Thứ 7, huyện An Biên về thị trấn Thứ 11, huyện An Minh, hậu quả làm cho anh H-bh bị thương đưa đia cấp cứu, sau đó tử vong. Theo bản kết luận giám định pháp y tử thi số 411/KL-KTHS ngày 22 tháng 8 năm 2017 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Kiên Giang kết luận anh H-bh tử vong do chấn thương sọ não nặng. Kết quả khám nghiệm hiện trường tai nạn cho thấy vị trí va chạm giữa 2 xe thuộc phần đường bên trái so với chiều đi của xe mà H-bc điều khiển. Khi điều khiển xe và xảy ra tai nạn bị cáo có nồng độ cồn trong máu vượt quy định và không có giấy phép lái xe.

[3] Khi thực hiện hành vi bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự; bị cáo điều khiển xe mô tô tham gia giao thông trên đoạn đường không phân chia chiều xe chạy khi phát hiện xe đi ngược chiều đã không cho xe đi và tránh về bên phải theo chiều xe chạy của mình mà lấn sang phần đường bên trái. Quy tắc tránh xe đi ngược chiều được quy định tại khoản 1 Điều 17 Luật Giao thông đường bộ là vi phạm quy tắc giao thông đường bộ như sau “Trên đường không phân chia thành hai chiều xe chạy riêng biệt, hai xe đi ngược chiều tránh nhau, người điều khiển phải giảm tốc độ và cho xe đi về bên phải theo chiều xe chạy của mình”. Như vậy, bị cáo đã có hành vi vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ và đây là nguyên nhân trực tiếp gây ra tai nạn với hậu quả là anh H-bh tử vong. Do đó hành vi của bị cáo đã cầu thành tội Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ quy định tại Điều 202 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa dổi, bổ sung năm 2009.

[4] Bên cạnh đó, bị cáo điều khiển xe và gây tai nạn khi không có giấy phép lái xe theo quy định; trong tình trạng nồng độ cồn trong máu vượt quá quy định. Đây là các tình tiết định khung hình phạt tại điểm a, b khoản 2 Điều 202 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009. Do đó, Viện kiểm sát truy tố và kết luận bị cáo phạm tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ theo điểm a, b khoản 2 Điều 202 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009 là có căn cứ và đúng pháp luật.

[5] Khoản 1 và khoản 2 Điều 202 Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào điều khiển phương tiện giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến năm năm.

2. Phạm tội một thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm:

a) Không có giấy phép hoặc bằng lái xe theo quy định;

b) Trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định hoặc có sử dụng các chất kích thích mạnh khác mà pháp luật cấm sử dụng;

c) Gây tai nạn rồi bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm hoặc cố ý không cứu giúp người bị nạn;

[6] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng mà cụ thể là các quy định về điều khiển phương tiện giao thông và an toàn giao thông đường bộ. Bên cạnh đó bị cáo còn gây hậu quả làm cho anh H-bh tử vong. Đây là mất mát, tổn thất không gì bù đắp được. Qua đó cần phải xử phạt bị cáo một mức án tương xứng với tính chất mức độ phạm tội mà bị cáo đã thực hiện để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, sống tuân thủ pháp luật, đồng thời cũng nhằm cảnh tỉnh, răn đe chung cho mọi người có ý thức tuân thủ pháp luật khi tham gia giao thông, tránh gây hậu quả xấu cho người khác tương tự như hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra trong vụ án này và cũng nhằm góp phần lập lại trật tự an toàn giao thông trên địa bàn huyện.

[7] Tuy nhiên, sau khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã tự nguyện bồi thường một phần thiệt hại, khắc phục hậu quả cho người bị hại. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 để  xem xét giảm nhẹ hình phạt khi quyết định mức hình phạt đối với bị cáo.

[8] Từ những phân tích nêu trên, HĐXX thấy cần phải áp dụng Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xử phạt bị cáo bằng hình phạt tù có thời hạn nhằm cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, buộc chấp hành hình phạt tại cơ sở giam giữ trong một thời hạn nhất định là phù hợp với hành vi, tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo. Khi quyết định hình phạt xét thấy bị cáo có thân nhân tốt, có nhiều tình tiết nhảm nhẹ tại khoản  Điều 51 Bộ luật hình sự nên chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự để xem xét, xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt.

[9] Về trách nhiệm dân sự, bị cáo và người đại diện hợp pháp của bị hại thống nhất tự thương lượng với nhau là bị cáo bồi thường chi phí điều trị thương tích, mai táng phí, ngày công lao động và tiền tổn thất tinh thần tổng cộng 173.239.899 đồng, hiện bị cáo và gia đình đã bồi thường được 25.000.000 đồng, còn lại là 148.239.899 đồng bị cáo đồng ý tiếp tục bồi thường, nhưng hiện nay hoàn cảnh gia đình khó khăn nên chưa thể khắc phục ngay. Thấy rằng, đây là sự tự nguyện thỏa thuận về bồi thường thiệt hại giữa bị cáo và người đại diện hợp pháp của bị hại, sự thỏa thuận này không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội nên HĐXX chấp nhận. Tuy nhiên, về thời gian và phương thức bồi thường thì giữa bị cáo và người đại diện hợp pháp của bị hại không tự thương lượng được nên HĐXX không thể ghi nhận mà buộc bị cáo phải tiếp tục bồi thường thiệt hại cho đại diện hợp pháp của người bị hại 148.239.899 đồng là phù hợp theo quy định tại các điều 584, 585, 586, 591 Bộ luật dân sự.

[10] Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra đã xử lý xong và đúng pháp luật nên HĐXX không xem xét lại.

[11] Về án phí, bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng và dân sự sơ thẩm là: 148.239.899 x 5% = 7.411.995 đồng. Tổng cộng là, 7.611.995 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn H-bc (T1) phạm tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”.

Áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 202 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009, điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 54 và Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, Xử phạt bị cáo Trần Văn H-bc 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bị bắt tạm giam (ngày 16-11-2017).

Về trách nhiệm dân sự, áp dụng các điều 584, 585, 586, 591 Bộ luật dân sự năm 2015, buộc bị cáo Trần Văn H-bc bồi thường thiệt hại cho ông Phạm Thành L2, bà Trịnh Hồng H1 148.239.899 đồng (Một trăm bốn mươi tám triệu hai trăm ba mươi chín ngàn tám trăm chín mươi chín đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án nếu người phải thi hành án không bồi thường hoặc bồi thường không đủ số tiền nêu trên thì hàng tháng còn phải trả tiền lãi theo theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015. 

Về án phí, áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 và điểm a, c Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, bị cáo Trần Văn H-bc chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và 7.411.995  đồng án phí dân sư sơ thẩm. Tổng cộng là7.611.995 đồng.

Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 19-4-2018).

Trường hợp phần dân sự của bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


74
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về