Bản án 08/2018/HNGĐ-ST ngày 23/05/2018 về tranh chấp ly hôn

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÂN HỒ, TỈNH SƠN LA

BẢN ÁN 08/2018/HNGĐ-ST NGÀY 23/05/2018 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN

Ngày 23 tháng 5 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La; Xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số; 52/2018/TLST- HNGĐ ngày 20 tháng 03 năm 2018, về việc “ Xin ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số; 08/2018/QĐXX - HNGĐ ngày 7 tháng 5 năm 2018 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Sồng Thị C, sinh năm 1985.

Địa chỉ: Bản CT, xã LL, huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La. ( Có mặt tại phiên tòa).

2. Bị đơn: Anh Tráng A D, sinh năm 1984.

Địa chỉ: Bản CT, xã LL, huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La. ( Có mặt tại phiên tòa).

3. Người phiên dịch cho các đương sự: Anh Sồng A P.

Địa chỉ; Tiểu khu 0, thị trấn MC, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện ngày 01/03/2018 và biên bản ghi lời khai ngày 20/03/2018 tại Toà án nhân dân huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La, nguyên đơn chị SồngThị C trình bày:

Chị và anh Tráng A D chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2000, trên cơ sở tự nguyện chỉ tổ chức đám cưới theo phong tục tập quán địa phương, không  có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Sau khi chung sống với nhau như vợ chồng, anh chị chung sống hạnh phúc được mười bảy năm thì sảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, tính tình không hợp, không ai quan tâm đến ai. Chị đã sống ly thân với anh Tráng A D từ tháng 12 năm 2017 cho đến nay, nay chị Sồng Thị Ch thấy tình cảm vợ chồng không còn yêu cầu Toà án giải quyết cho chị ly hôn với anh Tráng A D.

Về con chung: Trong thời gian chung sống với nhau như vợ chồng, chị và anh Tráng A D sinh được 05 con chung là cháu Tráng Thị N sinh năm 2002, cháu Tráng Thị C sinh năm 2004, cháu Tráng Thị M sinh năm 2005, cháu Tráng A L sinh năm 2006, cháu Tráng Thị M sinh năm 2015. Nay ly hôn chị yêu cầu được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục cháu Tráng Thị N, Tráng Thị M đến tuổi trưởng thành, không yêu cầu anh Tráng A D phải cấp dưỡng phí tổn nuôi con chung.

Về tài sản chung, tài sản riêng; Trong thời gian chung sống chị và anh không có tài sản gì giá trị, không yêu cầu Toà án xem xét giải quyết.

Về nợ chung, nợ riêng: Không có.

Tại biên bản lời khai ngày 10/4/2018, anh Tráng A D trình bày: Anh và chị Sồng Thị C tự nguyện tìm hiểu và sống với nhau như vợ chồng từ năm 2000, không có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Vợ chồng anh chị chỉ chung sống hạnh phúc được mười bảy năm thì sảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, tính tình không hợp, không ai quan tâm đến ai. Hiện nay anh chị đang sống ly thân, chị Sồng Thị C yêu cầu xin ly hôn anh không nhất trí mong muốn quay về đoàn tụ.

Về con chung: Nếu phải ly hôn anh nhất trí như nguyện vọng của chị Sồng Thị Ch, anh được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Tráng Thị C, sinh năm 2004, cháu Tráng Thị M, sinh năm 2005, cháu Tráng A L, sinh năm 2006 đến tuổi trưởng thành, chị Sồng Thị Ch được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Tráng Thị N,Tráng Thị M sinh năm 2015, không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Anh và chị không có tài sản gì đáng kể, không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

Về nợ chung, nợ riêng: Không có.

Tại phiên tòa chị Sồng Thị Ch vẫn giữ nguyên yêu cầu xin được ly hôn và con chung, anh Tráng A D nhất trí theo yêu cầu của chị Sồng Thị C.

Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Vân Hồ tại phiên toà, trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán,Thư ký, Hội đồng xét xử và người tham gia tố tụng tuân theo và chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án như sau, Tòa án nhân dân huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La thụ lý vụ án xin ly hôn giữa chị Sồng Thị C và anh Tráng A D là có căn cứ đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sựLuật hôn nhân gia đình, chị Sồng Thị Ch và anh Tráng A D không có đăng ký kết hôn có 05 con chung là vị thành niên, cháu Tráng Thị M đang dưới 36 tháng tuổi.

Đề nghị áp dụng vào các Điều 9, Điều 14, Điều 15, khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 53, khoản 1, 3 Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 4 Điều 147 BLTTDS năm 2015, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc Hội. Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Đề nghi Hội đồng xét xử tuyên bố không công nhận quan hệ hôn nhân giữa chị Sồng Thị C và anh Tráng A D là quan hệ vợ chồng.

Đề nghị giao cháu Tráng Thị N sinh năm 2002, cháu Tráng Thị M sinh năm 2015 cho chị Sồng Thị C được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục các cháu

trưởng thành đủ 18 tuổi. Anh Tráng A D được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Tráng Thị C sinh năm 2004, cháu Tráng Thị M sinh năm 2005, cháu Tráng A L sinh năm 2006 cho đến khi các cháu trưởng thành đủ 18 tuổi, chị Sồng Thị C, anh Tráng A D không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con chung. Chị Sồng Thị C, anh Tráng A D có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được phép ngăn cản.

 Chị Sồng Thị C phải chịu án phí dân sự trong vụ án xin ly hôn theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Sồng Thị C và anh Tráng A D tự nguyện tìm hiểu và chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2000 trên cơ sở tự nguyện theo phong tục tập quán địa phương. Không có đăng ký kết hôn là trái với quy định của Luật Hôn nhân và gia đình, quan hệ hôn nhân giữa chị Sồng Thị C và anh Tráng A D không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của vợ chồng theo quy định của pháp luật. Vận dụng Điều 9, khoản 1 Điều 14, khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình. Khoản 4 Điều 3 Thông tư liên tịch 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC- BTP ngày 6 tháng 01 năm 2016 hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật hôn nhân và gia đình. Không công nhận quan hệ giữa chị Sồng Thị C và anh Tráng A D là quan hệ vợ chồng.

[2] Về con chung: Trong thời gian chung sống với nhau như vợ chồng chị Sồng Thị C và anh Tráng A D sinh được 05 con chung là cháu Tráng Thị N sinh năm 2002, cháu Tráng Thị C sinh năm 2004, cháu Tráng Thị M sinh năm 2005, cháu Tráng A L sinh năm 2006, cháu Tráng Thị M sinh năm 2015. Chị Sồng Thị Ch có nguyện vọng được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Tráng Thị N, Tráng Thị M đến tuổi trưởng thành, không yêu cầu anh Tráng A D phải cấp dưỡng nuôi con chung, anh Tráng A D nhất trí. Anh Tráng A D được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu cháu Tráng Thị C sinh năm 2004, cháu Tráng Thị M sinh năm 2005, cháu Tráng A L sinh năm 2006 cho đến khi các cháu trưởng thành đủ 18 tuổi.  Nay Hội đồng xét xử xét thấy để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho cháu Tráng Thị M, đặc biệt để đảm bảo cho cháu phát triển về thể chất, đảm bảo việc học hành và điều kiện cho sự phát triển về tinh thần cho cháu Tráng Thị M. Hiện nay cháu M dưới 36 tháng tuổi, cháu cần sự chăm sóc trực tiếp của người mẹ, để đảm bảo cho sự phát triển của các cháu đến tuổi trưởng thành và đảm bảo việc học hành của các cháu. Các cháu Tráng Thị C, Tráng Thị M, Tráng A L hiện tại vẫn đang trực tiếp chung sống với anh Tráng A D. Chấp nhận yêu của chị Sồng Thị C và anh Tráng A D, chị Sồng Thị C được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục cháu Tráng Thị N sinh năm 2002, cháu Tráng Thị M sinh năm 2015 đến khi các cháu trưởng thành đủ 18 tuổi, anh Tráng A D được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục cháu Tráng Thị C sinh năm 2004, cháu Tráng Thị M sinh năm 2005, cháu Tráng A L sinh năm 2006 đến khi các cháu trưởng thành đủ 18 tuổi. Chị Sồng Thị C, anh Tráng A D không phải cấp dưỡng nuôi con chung, chị Sồng Thị C và anh Tráng A D được quyền thăm nom con chung không ai được cản trở. Vận dụng Điều 15, khoản 1, 3 Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình.

[3] Về tài sản chung, tài sản riêng, nợ chung, nợ riêng anh chị không có, không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết. Tòa án không đặt vấn đề xem xét, giải quyết.

[4] Về án phí: Chị Sồng Thị C phải chịu án phí dân sự sở thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La. Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy  Ban Thường vụ Quốc Hội. Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều 9, khoản 1 Điều 14, Điều 15, khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 53, khoản 1, 3 Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình. Khoản 4Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự. Khoản 4 Điều 3 Thông tư liên tịch số 01/2016/ TTLT- TANDTC- VKSNDTC- BTP ngày 6 tháng 01 năm 2016 hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật hôn nhân và gia đình. Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc Hội. Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử tuyên bố không công nhận quan hệ hôn nhân giữa chị Sồng Thị C và anh Tráng A D là quan hệ vợ chồng.

2. Về con chung: Chị Sồng Thị C được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục cháu Tráng Thị N sinh năm 2002, Tráng Thị M sinh năm 2015 đến khi cháu N, cháu M trưởng thành đủ 18 tuổi. Anh Tráng A D được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục cháu Tráng Thị C sinh năm2004, cháu Tráng Thị M sinh năm 2005, cháu Tráng A L sinh năm 2006 đến khi các cháu trưởng thành đủ 18 tuổi. Chị Sồng Thị C, anh Tráng A D không phải cấp dưỡng nuôi con chung, chị Sồng Thị C, anh Tráng A D có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được phép ngăn cản, cản trở quyền thăm nom, chăm sóc con chung của chị Sông Thị C, anh Tráng A D.

3. Về tài sản chung, tài sản riêng, nợ chung, nợ riêng anh chị không có, không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết. Tòa án không đặt vấn đề xem xét, giải quyết.

4. Về án phí: Chị Sồng Thị C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm xin ly hôn là 300.000 đồng ( Ba trăm nghìn đồng ) được khấu trừ vào dự phí xin ly hôn đã nộp là 300.000 đồng ( Ba trăm nghìn đồng ) tại biên lai thu số: AA/2016/0000958 ngày 20/03/2018 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La.

5. Về quyền kháng cáo: Chị Sồng Thị C, anh Tráng A D có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.


52
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về