Bản án 08/2018/HNGĐ-ST ngày 21/05/2018 về tranh chấp ly hôn, nuôi con

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH SÓC TRĂNG

BẢN ÁN 08/2018/HNGĐ-ST NGÀY 21/05/2018 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN, NUÔI CON

Ngày 21/5/2018, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 192/2017/TLST-HNGĐ, ngày 13 tháng 11 năm 2017 về “Tranh chấp ly hôn và nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 27/2018/QĐXX-ST ngày 04/4/2018 và quyết định hoãn phiên tòa số 13/2018/QĐST-HNGĐ ngày 27/4/2018 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Trần Thị Cẩm T, sinh ngày 28/4/1986, địa chỉ: ấp Kinh M, xã An N, huyện Châu T, tỉnh Sóc T (có mặt)

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Hoàng P, sinh năm 1974, địa chỉ: ấp Kinh M, xã An N, huyện Châu T, tỉnh Sóc T (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện ngày 26/10/2017 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, cũng N tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn bà Trần Thị Cẩm T trình bày:

Bà và ông P, có tổ chức lễ cưới vào ngày 09/9/2005, đến ngày 20/10/2008, thì bà và ông P đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã An N, huyện Châu T, tỉnh Sóc T. Trong quá trình chung sống, bà và ông P có một con chung tên Nguyễn Trần Thoại N, sinh ngày 14/12/2006, hiện nay bà đang nuôi dưỡng. Nguyên nhân mâu thuẫn là ông P thiếu trách nhiệm với gia đình, không lo làm ăn thường xuyên nhậu nhẹt say sưa và kiếm chuyện, bất đồng quan điểm sống, sống không hợp nhau và các vấn đề khác không đồng thuận dẫn đến tình cảm vợ chồng không còn và mâu thuẫn vợ chồng càng ngày trầm trọng không còn sống chung với nhau. Nay bà Trần Thị Cẩm T yêu cầu tòa án nhân dân huyện Châu T, tỉnh Sóc T giải quyết:

Về quan hệ hôn nhân: Bà T yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Hoàng P.

Về con chung: 01 đứa tên Nguyễn Trần Thoại N, sinh ngày 14/12/2006, bà xin được nuôi dưỡng đến trưởng thành và không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của phap luật.

Về tài sản chung, nợ chung bà và ông P tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn không rút đơn khởi kiện và các đương sự không thỏa thuận được việc giải quyết vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

[1] Đối với ông Nguyễn Hoàng P là bị đơn trong vụ án, mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham dự phiên tòa đến lần thứ hai Nng vẫn vắng mặt mà không có lý do và không có người đại diện tham gia phiên tòa, nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b Khoản 2, Điều 227 và khoản 3, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án:

[2]. Bà và ông P, có tổ chức lễ cưới vào ngày 09/9/2005, đến ngày 20/10/2008, thì bà và ông P đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã An Ninh, huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng. Trong quá trình chung sống, bà và ông P có một con chung tên Nguyễn Trần Thoại N, sinh ngày 14/12/2006, hiện nay bà đang nuôi dưỡng. Nguyên nhân mâu thuẫn là ông P thiếu trách nhiệm với gia đình, không lo làm ăn thường xuyên nhậu nhẹt say sưa và kiếm chuyện, bất đồng quan điểm sống, sống không hợp nhau và các vấn đề khác không đồng thuận dẫn đến tình cảm vợ chồng không còn và mâu thuẫn vợ chồng càng ngày trầm trọng không còn sống chung với nhau. Đối với bà T là nguyên đơn trong vụ án, kể từ khi Tòa án thụ lý vụ án, Tòa án đã tạo điều kiện thuận lợi về mặt thời gian để vợ chồng có cơ hội hàn gắn, và mời tham dự các phiên hòa giải nhằm để động viên vợ chồng đoàn tụ, Nng bà T tỏ ra không có thiện chí để hàn gắn mối quan hệ hôn nhân. Tại tòa, bà T vẫn kiên quyết ly hôn với ông P.

[3] Hội đồng xét xử xét thấy thực trạng mâu thuẫn giữa vợ chồng bà T, ông P đã lâm vào tình trạng trầm trọng, không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, nên căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà T cho bà được ly hôn với ông P.

Về con chung: Trong thời gian chung sống bà T và ông P có 01 con chung Nguyễn Trần Thoại N, sinh ngày 14/12/2006 chưa thành niên hiện đang sống chung với bà. Tại phiên tòa hôm nay, bà T vẫn yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung là cháu Nguyễn Trần Thoại N, sinh ngày 14/12/2006 đến trưởng thành và không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật. Xét thấy, trong thời gian bà T và ông P xảy ra mâu thuẫn, cháu N là con chung của ông bà, đã và đang sống chung với bà T ổn định, để bảo đảm quyền lợi về mọi mặt cho con chưa thành niên và theo nguyện vọng của cháu là được sống chung với mẹ, nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu này của bà T là giao cháu N cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng đến trưởng thành và ông P không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Ông P không trực tiếp nuôi con vẫn có quyền thăm nom con, Nng không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con, theo quy định tại các Điều 58, 81, 82 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Về tài sản chung, nợ chung: bà T và ông P tự thỏa thuận, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu án phí sơ thẩm không có giá ngạch, theo quy định tại Khoản 4, Điều 147 của Bộ Luật Tố tụng Dân sự và Khoản 5, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án của Ủy ban Thườngvụ Quốc Hội ngày 30/12/2016.

Về quyền kháng cáo của đương sự được thực hiện theo quy định tại Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên Viện Kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên tòa có ý kiến phát biểu nhận xét về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án nhìn chung đều thực hiện đúng theo các quy định của pháp luật về tố tụng dân sự. Đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị Cẩm T được ly hôn với ông Nguyễn Hoàng P, về con chung: Giao cháu Nguyễn Trần Thoại N, sinh ngày 14/12/2006 cho bà T nuôi dưỡng đến trưởng thành, ông Nguyễn Hoàng P không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Giành quyền thăm nom chăm sóc con chung cho ông P không ai được quyền ngăn cản. Về tài sản chung, nợ chung bà T và ông P tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không đặt ra xem xét.

Qua ý kiến đề xuất của Kiểm sát viên là có cơ sở chấp nhận. Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

- Áp dụng điểm a, khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 4, Điều 147; Điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 271, Điều 273, Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Áp dụng các Điều 51, 56, 58, khoản 2 Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

- Áp dụng khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án của Ủy ban Thườngvụ Quốc Hội ngày 30/12/2016.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị cẩm T được ly hôn với ông Nguyễn Hoàng P.

2. Về con chung: giao cháu Nguyễn Trần Thoại N, sinh ngày 14/12/2006 cho bà T được trực tiếp nuôi dưỡng đến trưởng thành, ông P không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Dành quyền thăm nôm chăm sóc con chung cho ông P không ai được quyền ngăn cản.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Bà T và ông P tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.

5. Về án phí sơ thẩm: Bà Trần Thị Cẩm T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0009814, ngày 26/10/2017, của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng. Nguyên đơn đã nộp đủ án phí sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo bản án: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc niêm yết, để Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử theo trình tự phúc thẩm.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; 7; 7a và Điều 9 của Luật Thi hành án Dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự./.


61
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 08/2018/HNGĐ-ST ngày 21/05/2018 về tranh chấp ly hôn, nuôi con

Số hiệu:08/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Châu Thành - Sóc Trăng
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:21/05/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về