Bản án 07/2020/HSST ngày 09/01/2020 về tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIAO THỦY, TỈNH NAM ĐỊNH

BẢN ÁN 07/2020/HSST NGÀY 09/01/2020 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 09 tháng 01 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 112/2019/HSST ngày 02 tháng 12 năm 2019, quyết định đưa vụ án ra xét xử số 116/2019/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 12 năm 2019, đối với bị cáo:

Trần Văn N, sinh năm 1978, tại Giao Xuân, Giao Thủy, Nam Định; nơi ĐKHKTT và Chỗ ở hiện nay: Xóm X, xã Gi, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: N; Tôn giáo: Đạo thiên chúa; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn B và bà Nguyễn Thị T; Vợ là Lê Thị M; có 03 con; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân:

Ngày 28/3/2005, bị TAND huyện Giao Thủy xử phạt 6 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Ngày 17/6/2015, bị TAND huyện Nam Giang, tỉnh Quảng Nam xử phạt 6 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ra trại ngày 15/10/2015. Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/10/2019 đến nay; bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Anh Đặng Văn Th; sinh năm 1981

Địa chỉ: Xóm 8, xã Gi, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định

- Người làm chứng:

+ Anh Trần Văn H, sinh năm 1974

Địa chỉ: Xóm 8, xã Giao H, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định

+ Anh Trần Văn Ph, sinh năm 1979

Địa chỉ: Xóm X, xã Gi, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam, 

Tại phiên tòa: Người bị hại và người làm chứng đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khong 12giờ 30 phút, ngày 18/7/2019, Trần Văn N một mình đi bộ từ bãi biển xã Giao Hải vào nhà anh Đặng Văn Th để lấy xe máy của N gửi ở đó từ trước để ra biển đánh cá. Khi vào trong sân, N thấy chiếc xe máy nhãn hiệu Wave, màu đen, BKS: 18H1-0198 của anh Th đang dựng trước khu vực cửa lách, thấy xe không khóa cổ, khóa càng, chìa khóa còn cắm ở ổ khóa điện, quan sát xung quanh không có người, N nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe máy trên nên N đến mở khóa điện rồi nổ máy điều khiển xe về nhà tại xóm Xuân Minh, xã Giao Xuân cất giấu đến sáng ngày 19/7/2019 N tiếp tục quay lại nhà anh Th lấy chiếc xe của mình đi về. Sau đó N tháo hộp xích và gương chiếu hậu bên phải của chiếc xe trộm cắp của anh Thụ, thay BKS 18H1-0198 bằng BKS: 18P4-0588 sử dụng chiếc xe trên để đi lại. Quá trình sử dụng, N mang xe đến quán sửa chữa xe máy của anh Trần Văn Ph ở xóm Xuân Hoành, xã Giao Xuân thay toàn bộ vỏ xe từ màu đen của anh Thụ thành màu đỏ, thay mới 01 bộ nhông xích đĩa và 01 bộ càng phía sau của xe. Sau đó N bán vỏ cũ của xe cùng chiếc BKS 18H1-0198 cho người buôn bán đồng nát được 25.000 đồng tiêu xài hết, còn 01 bộ nhông xích đĩa, 01 bộ càng sau cùng 01 hộp xích và gương chiếu hậu bên phải của xe trộm cắp được của anh Thụ, N cất giấu tại nhà mình.

Ngày 25/9/2019, Cơ quan CSĐT Công an huyện Giao Thủy đã triệu tập N đến làm việc. Tại Cơ quan CSĐT Công an huyện Giao Thủy, N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm pháp của mình như đã nêu trên và giao nộp cho CQĐT 01 xe máy đeo BKS: 18P4-0588, 01 bộ nhông xích đĩa, 01 bộ càng phía sau, 01 hộp xích và 01 chiếc gương chiếu hậu bên phải.

Ngày 02/10/2019, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng huyện Giao Thủy đã định giá xác định: “01 xe máy đeo BKS: 18P4-0588 tại thời điểm bị trộm cắp có trị giá 4.725.000 đồng”.

Bản cáo trạng số 115/CT - VKS ngày 30/11/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định đã truy tố Trần Văn N về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Ti phiên tòa: Bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi như đã nêu.

Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Văn N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51Bộ luật hình sự; xử phạt Trần Văn N từ 09 tháng đến 12 tháng tù.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo điều kiện kinh tế gia đình khó khăn, đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Anh Th không có ý kiến gì về vấn đề dân sự nên trách nhiệm dân sự không đặt ra.

Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng dân sự : Truy thu số tiền 25.000 đồng bị cáo chiếm hưởng trái phép sung ngan sách Nhà nước, tịch thu cho tiêu hủy 1 BKS 18P4 – 0588, 1 bộ nhông sen đĩa, 1 bộ càng xe máy.

Trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án, bị cáo được nói lời sau cùng, bị cáo trình bày bản thân nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, kính mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm trở về cùng gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Giao Thủy, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố và thành viên Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về việc kết tội bị cáo: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại giai đoạn điều tra, cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận: Trần Văn N có hành vi lén lút trộm cắp của anh Đặng Văn Th ở xóm 8, xã Giao Hải 01 chiếc xe máy Wave, màu đen BKS: 18H1-0198 trị giá 4.725.000 đồng. Như vậy hành vi của bị cáo Trần Văn N đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản ” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự như quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy tỉnh Nam Định.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu tới trật tự trị an tại địa phương. Để có tác dụng giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội, cần phải xử phạt bị cáo nghiêm minh mới đảm bảo tính răn đe và phòng ngừa chung.

[4] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật hình sự. Bị cáo đã 2 lần bị xét xử về tội “trộm cắp tài sản” đến nay được xóa án tích nên bị cáo có nhân thân xấu. Tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, do đó cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[5] Về hình phạt chính: Căn cứ vào tính chất mức độ của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo; Hội đồng xét xử thấy cần phải xử phạt bị cáo bằng hình phạt tù có thời hạn, buộc bị cáo phải tập trung cải tạo một thời gian nhất định đủ để khi trở về cộng đồng là công dân có ích cho gia đình và xã hội.

[6] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”, do đó, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy điều kiện hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[7] Về trách nhiệm dân sự:

Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ và trả lại chiếc xe máy cùng 01 hộp xích, 01 gương chiếu hậu bên phải đã qua sử dụng cho anh Thụ, anh Thụ đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì nên trách nhiệm dân sự không đặt ra.

Đi với 01 vỏ xe màu đen cùng 01 BKS 18H1-0198, N khai đã bán cho người buôn bán đồng nát không rõ tên tuổi địa chỉ lấy 25.000 đồng, quá trình điều tra không thu hồi được, nay truy thu số tiền 25.000 đồng bị cáo chiếm hưởng trái phép sung ngân sách Nhà nước.

Đi với 01 bộ nhông sên đĩa và 01 bộ càng sau xe máy đều đã cũ hiện không còn giá trị sử dụng, anh Th không có yêu cầu nhận lại, nay tịch thu cho tiêu hủy.

Đối với vỏ xe và chiếc BKS 18 H1-0198 không thu hồi được anh Th không yêu cầu bồi thường và việc thay thế một số linh kiện mới vào xe của anh Thụ, bị cáo không có yêu cầu gì nên không xem xét.

[8] Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1.Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự: Tuyên bố bị cáo Trần Văn N phạm tội “Trộm cắp tài sản”; xử phạt bị cáo Trần Văn N 01 (một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 08/10/2019.

2. Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố Tụng hình sự: Truy thu đối với Trần Văn N số tiền 25.000đ (hai mươi lăm nghìn đồng) do chiếm hưởng trái phép sung ngân sách Nhà nước. Tịch thu cho tiêu hủy 01 Biển kiểm soát 18P4 – 0588, 01 bộ nhông sên đĩa, 01 bộ càng sau xe máy tình trạng đều đã cũ, han rỉ (được ghi chi tiết tại biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 02/12/2019 giữa Công an huyện Giao Thủy và Chi cục thi hành án dân sự huyện Giao Thủy).

3. Án phí: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Trần Văn N phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.


19
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 07/2020/HSST ngày 09/01/2020 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:07/2020/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Giao Thủy - Nam Định
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 09/01/2020
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về