Bản án 07/2020/HNGĐ-ST ngày 21/02/2020 về tranh chấp ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAI LẬY, TỈNH TIỀN GIANG

BẢN ÁN 07/2020/HNGĐ-ST NGÀY 21/02/2020 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN

Ngày 21 tháng 02 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cai Lậy xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 643/2019/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 12 năm 2019 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2020/QĐXX-ST ngày 06 tháng 02 năm 2020, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1991; cư trú tại: Ấp A, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang. (Xin vắng mặt)

- Bị đơn: Anh Nguyễn Hoàng G, sinh năm 1983; cư trú tại: Ấp A, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án, nguyên đơn, chị Nguyễn Thị N trình bày: Chị và anh Nguyễn Hoàng G tiến đến hôn nhân thông qua người làm mai, sau đó tổ chức đám cưới vào năm 2011. Đến ngày 30-8-2013 thì tiến hành đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện C. Mâu thuẫn vợ chồng đã phát sinh từ khi tổ chức lễ hỏi vào năm 2010 nhưng chị bỏ qua và tiến đến hôn nhân với anh G. Khi đám cưới xong, vợ chồng sống cũng có thời gian hạnh phúc nhưng không trọn vẹn, chị và anh G sống cùng với gia đình anh G. Vợ chồng có mâu thuẫn và chị có vài lần về nhà cha mẹ ruột sinh sống, anh G rước nên chị trở về, đến năm 2014 thì chị về ở luôn cho đến nay. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh G cờ bạc với nhiều hình thức như đá gà, đánh bài, tài xỉu…, gây nợ nần, chị có khuyên ngăn nhưng anh G chẳng những không thay đổi mà vợ chồng còn cự cãi nhau, thời gian dài anh G vẫn tiếp tục như vậy nên tình cảm vợ chồng không còn. Ngoài ra, anh G cũng không lo lắng gì cho chị và con. Thời gian vợ chồng ly thân từ năm 2014 đến nay đã lâu, hai bên vẫn không hòa giải hàn gắn được. Nay chị nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu ly hôn với anh G.

Về con chung: Có 01 con chung là cháu Nguyễn Ngọc Cẩm H, sinh ngày 14- 6-2012 hiện nay đang do chị trực tiếp nuôi dưỡng. Chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung sau khi ly hôn, không yêu cầu anh G cấp dưỡng.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa giải quyết, để hai bên tự thỏa thuận.

Bị đơn, anh Nguyễn Hoàng G dù đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng và triệu tập hợp lệ nhưng không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của chị N, đồng thời vắng mặt không có lý do tại các phiên họp và phiên tòa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Chị Nguyễn Thị N và anh Nguyễn Hoàng G tranh chấp về ly hôn; anh G cư trú tại ấp 5, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, thì thẩm quyền giải quyết vụ án là của Tòa án nhân dân huyện Cai Lậy.

[2] Bị đơn, anh Nguyễn Hoàng G không có đơn xin xét xử vắng mặt, đã được Tòa án tiến hành triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Chị Nguyễn Thị N có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vụ án vắng mặt anh G, chị N.

[3] Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy: Hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị N và anh Nguyễn Hoàng G là hợp pháp vì có đăng ký và được Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn số 96/2013, quyển số 1, ngày 30-8-2013. Theo chị N thì sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2014 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh G thường xuyên cờ bạc gây nợ, không quan tâm gì đến vợ con nên từ đó vợ chồng hay cự cãi, cuộc sống không còn hạnh phúc, chị N khuyên ngăn nhiều lần nhưng anh G không thay đổi tính tình để cùng nhau chung sống, chăm lo cho con. Từ năm 2014 đến nay, do không thể sống chung được nữa nên chị và anh G đã ly thân với nhau, trong khoảng thời gian này anh G cũng không có biện pháp gì để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Mặc dù lời trình bày trên do chị N nêu ra, nhưng anh G không có ý kiến gì, cũng không đến Tòa để trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu của chị N, cũng như để hàn gắn tình cảm vợ chồng nếu như còn yêu thương vợ nên xem như anh G đã không còn quan tâm đến hôn nhân của vợ chồng và tự mình từ bỏ nghĩa vụ chứng minh. Tại Điều 19 của Luật Hôn nhân và gia đình quy định: “Vợ chồng có nghĩa vụ yêu thương, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau; cùng chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình” và “vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau”. Qua đó, Hội đồng xét xử nhận thấy giữa chị N và anh G đã không còn tình nghĩa vợ chồng, tình trạng hôn nhân trầm trọng, đời sống chung không còn nên mục đích của hôn nhân không đạt được, vì vậy yêu cầu xin ly hôn của chị N là có căn cứ.

[4] Về con chung: Giữa chị N và anh G có 01 con chung là cháu Nguyễn Ngọc Cẩm H, sinh ngày 14-6-2012 hiện do chị N trực tiếp nuôi dưỡng, cháu H có nguyện vọng được sống với chị N sau khi cha mẹ ly hôn. Chị N yêu cầu được tiếp tục nuôi cháu H, anh G không có ý kiến gì về phần này. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần giao con chung cho chị N tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp với nguyện vọng của con, tránh làm xáo trộn cuộc sống, tâm lý của cháu. Chị N không yêu cầu phía anh G cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, nếu sau này chị N có yêu cầu sẽ được giải quyết bằng vụ án khác.

[5] Về nợ chung, tài sản chung: Chị N không yêu cầu Tòa án giải quyết, anh G không có ý kiến gì về các vấn đề này, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[6] Về án phí: Chị Nguyễn Thị N là nguyên đơn khởi kiện vụ án hôn nhân gia đình nên phải chịu án phí theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị N. Cho chị Nguyễn Thị N được ly hôn với anh Nguyễn Hoàng G.

2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Ngọc Cẩm H, sinh ngày 14-6-2012 cho chị Nguyễn Thị N trực tiếp nuôi dưỡng sau khi ly hôn. Anh Nguyễn Hoàng G không phải cấp dưỡng nuôi con, do chị N chưa yêu cầu.

Anh Nguyễn Hoàng G có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được quyền cản trở.

3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị N phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân gia đình, nhưng được trừ vào số tiền 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng đã nộp tạm ứng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 17426 ngày 20-12-2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cai Lậy, nên xem như chị N đã thi hành xong.

Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.


14
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 07/2020/HNGĐ-ST ngày 21/02/2020 về tranh chấp ly hôn

Số hiệu:07/2020/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thị xã Cai Lậy - Tiền Giang
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:21/02/2020
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về