Bản án 07/2019/HS-ST ngày 28/01/2019 về tội vi phạm quy định ĐKPTGTĐB

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DMC - TỈNH TÂY NINH

BẢN ÁN 07/2019/HS-ST NGÀY 28/01/2019 VỀ TỘI VI PHẠM QUY ĐỊNH ĐKPTGTĐB

Ngày 28 tháng 01 năm 2019 tại Trụ sở Tòa án nhân dân Huyện DMC xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 61/2018/HS-ST ngày 03 tháng 12 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2019/QĐXXST- HS ngày 02 tháng 01 năm 2019 đối với bị cáo:

Ngô Văn Th, sinh năm 1984 tại tỉnh Tây Ninh; nơi cư trú: Ấp B4, xã PM, Huyện DMC, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Thợ hồ; trình độ văn hóa: Lớp 03/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không có; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngô Văn S (đã chết) và bà Phạm Thị S (đã chết); có vợ là Huỳnh Thị H, sinh năm 1983 (đã ly hôn); tiền án, tiền sự: Không có; nhân thân: Chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự lần nào và chưa bị xử lý vi phạm hành chính lần nào; áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú ngày 15 tháng 11 năm 2018 đến nay; có mặt.

- Bị hại: Anh Trần Thanh G, sinh năm 1984 (đã chết).

- Người đại diện hợp pháp của bị hại:

+ Chị Nguyễn Thị Tuyết M, sinh năm 1983, là vợ của bị hại; địa chỉ cư trú: Ấp NP, xã BN, Huyện DMC, tỉnh Tây Ninh; là người đại diện theo pháp luật; có mặt.

+ Trần Thanh Tr, sinh ngày 27-10-2012; Trần Tuyết H, sinh ngày 25-01- 2004; là con của bị hại; địa chỉ cư trú: Ấp NP, xã BN, Huyện DMC, tỉnh Tây Ninh.

Người đại diện theo pháp luật của Trần Thanh Tr, Trần Tuyết H là chị Nguyễn Thị Tuyết M, sinh năm 1983; địa chỉ cư trú: Ấp NP, xã BN, Huyện DMC, tỉnh Tây Ninh.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Chị Nguyễn Thị Mỹ D, sinh năm 1990; địa chỉ cư trú: Ấp A4, xã PM, Huyện DMC, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 16 giờ ngày 07 tháng 10 năm 2018, sau khi đã uống rượu, bia tại nhà xong, bị cáo Ngô Văn Th điều khiển xe mô tô biển số 70P2-7236 chở Trần Văn Q, sinh năm 1996, ngụ ấp PN, xã PM, Huyện DMC, tỉnh Tây Ninh lưu thông trên đường liên xã hướng đi từ xã PM, Huyện DMC, tỉnh Tây Ninh đến xã LN, Huyện DMC, tỉnh Tây Ninh; khi đi đến khu vực ấp A4, xã PM bị cáo Th cho xe chuyển hướng sang lề trái theo hướng lưu thông nhưng không quan sát, không đảm bảo an toàn nên đã gây ra tai nạn giao thông cho xe mô tô biển số 70E1-405.84 do anh Trần Thanh G điều khiển lưu thông theo hướng ngược lại. Tai nạn xảy ra làm anh G bị thương nặng, được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viên Đa khoa tỉnh Tây Ninh đến ngày 08-10-2018 thì tử vong do chấn thương sọ não.

Tại Cơ quan điều tra, bị cáo Ngô Văn Th đã thừa nhận toàn bộ hành vi của mình.

Kết luận giám định pháp y về tử thi số 1308/KL-KTHS ngày 11 tháng 10 năm 2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh kết luận: Nguyên nhân tử vong của anh Trần Thanh G là do chấn thương sọ não.

Kết luận giám định số 1325/KL-KTHS ngày 12 tháng 10 năm 2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh kết luận: Mẫu máu ghi thu của Trần Thanh G không có nồng độ cồn trong máu.

Kết luận giám định số 1353/KL-KTHS ngày 19 tháng 10 năm 2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh kết luận: Mẫu máu ghi thu của Ngô Văn Th có nồng độ cồn trong máu là 200,318 mg/100 ml máu.

Quá trình điều tra đã xác định bị cáo Th không có giấy phép lái xe theo quy định.

Về vật chứng vụ án:

+ Cơ quan điều tra đã thu giữ và giao trả lại cho chị Nguyễn Thị Mỹ D xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Vision biển số 70E1-405.84.

+ Hiện đang tạm giữ: 01 xe mô tô biển số 70P2-7236, màu sơn đen, nhãn hiệu Nagaki, số mày: VDGZS152FMH - N*323694*, số khung: RNDWCH1ND71N23694; tình trạng xe bị hư hỏng: Chắn bùn trước rời khỏi vị trí ban đầu; lược gió rời khỏi vị trí ban đầu; bộ phận máy lệch sang phải; cổ ống giảm thanh bị móp kim loại và dính chất liệu màu trắng bạc, kích thước (4x1) cm; đầu gác chân trước bên trái bị mài mòn, kích thước (1x1) cm.

Về trách nhiệm dân sự:

+ Chị Nguyễn Thị Tuyết M không yêu cầu bị cáo Th bồi thường.

+ Chị Nguyễn Thị Mỹ D không yêu cầu bồi thường giá trị tài sản bị hư hỏng của xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Vision biển số 70E1-405.84.

Bản Cáo trạng số 58/CT-VKS-DMC ngày 30 tháng 11 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân Huyện DMC đã truy tố bị cáo Ngô Văn Th về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại các điểm a, b khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Huyện DMC giữ nguyên cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

+ Áp dụng các điểm a, b khoản 2 Điều 260; các điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Ngô Văn Th từ 36 (ba mươi sáu) tháng đến 42 (bốn mươi hai) tháng tù.

+ Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Huyện DMC, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Huyện DMC, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi của bị cáo thể hiện:

Vào khoảng 16 giờ 00 phút ngày 07 tháng 10 năm 2018 bị cáo Ngô Văn Th không có giấy phép lái xe hạng A1 nhưng điều khiển xe mô biển số 70P2-7236 trong tình trạng đã uống rượu, bia có nồng độ cồn trong máu là 200,318 mg/100 ml máu; chở theo anh Trần Văn Q lưu thông trên đường liên xã hướng đi từ xã PM, Huyện DMC, tỉnh Tây Ninh đến xã LN, Huyện DMC, tỉnh Tây Ninh đến khu vực ấp A4, xã PM bị cáo chuyển hướng không quan sát, không đảm bảo quy định nên đã gây tai nạn cho xe mô tô biển số 70E1-405.84 do anh Trần Thanh G điều khiển lưu thông theo hướng ngược lại; hậu quả làm anh G bị tử vong do chấn thương sọ não.

Căn cứ vào kết quả khám nghiệm hiện trường, thực nghiệm điều tra, khám nghiệm phương tiên và các dấu vết để lại hiện trường thì nguyên nhân gây ra tai nạn là do quá trình lưu thông trên đường khi bị cáo Th điều khiển xe chuyển hướng không quan sát, không bảo đảm an toàn nên gây ra tai nan đã vi phạm các khoản 8, 9 Điều 8, khoản 2 Điều 15 của Luật Giao thông đường bộ.

Do đó, hành vi của bị cáo Ngô Văn Th đã cấu thành tội “vi phạm quy định ĐKPTGTĐB" với tình tiết định khung tăng nặng là “Không có giấy phép lái xe theo quy định” và “Trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu...có nồng độ cồn vượt quá mức quy định”; tội phạm và hình phạt được quy định tại các điểm a, b khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.

[3] Hành vi nêu trên của bị cáo nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến an toàn công cộng trật tự công cộng; bị cáo không đủ điều kiện để điều khiển xe theo quy định nhưng vẫn cố tình điều khiển xe và đã gây thiệt hại đến tính mạng của người khác nên cần có hình phạt tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi bị cáo đã thực hiện và phải cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định nhằm răn đe giáo dục và phòng ngừa chung trong xã hội.

Khi quyết định hình phạt, có xem xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo:

Tình tiết tăng nặng: Không có.

Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo đã thành khẩn khai báo; ăn năn hối cải; tại phiên tòa bị cáo đã thống nhất với người đại diện hợp pháp của bị hại về việc có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con của bị hại hàng tháng số tiền 2.000.000 đồng/2 con và gia đình của bị hại có đơn xin bãi nại cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm b , s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự 

[4] Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại:

+ Tại phiên tòa chị M yêu cầu bị cáo Th cấp dưỡng nuôi 02 con của người bị hại số tiền 2.000.000 đồng, không yêu cầu gì thêm; bị cáo Th đồng ý cấp dưỡng nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

+ Ghi nhận chị D không yêu cầu bồi thường thiệt hại.

[5] Về xử lý vật chứng:

+ Cơ quan điều tra Công an Huyện DMC đã giao trả xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Vision biển số 70E1-405.84 cho chị D là đúng quy định của pháp luât.

+ Tiếp tục tạm giữ của bị cáo Th 01 xe mô tô biển số 70P2-7236, màu sơn đen, nhãn hiệu Nagaki, số mày: VDGZS152FMH - N*323694*, số khung: RNDWCH1ND71N23694 để bảo đảm việc thi hành án.

[6] Về án phí: Căn cứ các Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội thì bị cáo Th phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các điểm a, b khoản 2 Điều 260; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự.

1. Tuyên bố bị cáo Ngô Văn Th phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt bị cáo Ngô Văn Th 03 (ba) năm tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.

2. Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Căn cứ Điều 591 Bộ luật Dân sự: Bị cáo Ngô Văn Th có trách nhiệm cấp dưỡng cho Trần Thanh Tr, sinh ngày 27-10-2012 và Trần Tuyết H, sinh ngày 25-01-2004; do chị Nguyễn Thị Tuyết M là người đại diện theo pháp luật; số tiền mỗi tháng 2.000.000/2 người; kể từ ngày 08 tháng 10 năm 2018 đến khi Trần Thanh Tr, Trần Tuyết H thành niên.

3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

+ Ghi nhận chị Nguyễn Thị Mỹ D đã nhận lại xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Vision biển số 70E1-405.84, không yêu cầu gì thêm.

+ Tạm giữ 01 xe mô tô biển số 70P2-7236, màu sơn đen, nhãn hiệu Nagaki, số mày: VDGZS152FMH - N*323694*, số khung: RNDWCH1ND71N23694 để bảo đảm việc thi hành án. Ghi nhận tình trạng xe bị hư hỏng: Chắn bùn trước rời khỏi vị trí ban đầu; lược gió rời khỏi vị trí ban đầu; bộ phận máy lệch sang phải; cổ ống giảm thanh bị móp kim loại và dính chất liệu màu trắng bạc, kích thước (4x1) cm; đầu gác chân trước bên trái bị mài mòn, kích thước (1x1) cm.

Trường hợp người phải thi hành án không tự nguyện thi hành án thì Chấp hành viên xử lý tiền, tài sản đó để thi hành án theo quy định tại đoạn 2 khoản 1 Điều 126 của Luật Thi hành án dân sự.

Trường hợp người phải thi hành án đã tự nguyện thi hành án xong thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định trả tiền, tài sản tạm giữ theo quy định tại đoạn 1 khoản 1 Điều 126 của Luật Thi hành án dân sự.

Vật chứng hiện Chi cục Thi hành án dân sự Huyện DMC, tỉnh Tây Ninh đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 05 tháng 12 năm 2018.

4. Án phí: Bị cáo Ngô Văn Th phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

6. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại có quyên khang cao bản án này lên Toà an nhân dân tinh Tây Ninh. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

108
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 07/2019/HS-ST ngày 28/01/2019 về tội vi phạm quy định ĐKPTGTĐB

Số hiệu:07/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Dương Minh Châu - Tây Ninh
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 28/01/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về