Bản án 07/2019/HNGĐ-ST ngày 28/03/2019 về ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA

BẢN ÁN 07/2019/HNGĐ-ST NGÀY 28/03/2019 VỀ LY HÔN

Ngày 28 tháng 3 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 15/2018/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 12 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2019/QĐXX-ST ngày 01 tháng 3 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 12/2019/QĐST- HNGĐ ngày 14 tháng 3 năm 2019, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Hoàng Văn C - Sinh năm 1948. Địa chỉ: Số 440 N, phường P, TP T, tỉnh Thanh Hóa.

2. Bị đơn: Bà Lê Thị S - Sinh năm 1958.

Địa chỉ: Số 40 đường N, phường P, TP T, tỉnh Thanh Hóa.

Tại phiên tòa có mặt ông C, vắng mặt bà S.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, được bổ sung tại bản tự khai, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, ông Hoàng Văn C trình bày:

Về hôn nhân: Ông Hoàng Văn C và bà Lê Thị S kết hôn với nhau năm 2003, trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường P, TP T, tỉnh Thanh Hóa, giấy chứng nhận đăng ký kết hôn bản gốc hiện nay đã bị thất lạc nên ông C không có để giao nộp cho Tòa án. Sau khi kết hôn, vợ chồng ông chung sống hạnh phúc được 15 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hợp, bất đồng quan điểm sống dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi nhau. Mâu thuẫn căng thẳng nhất từ tháng 7/2018, ông đã chuyển về sống tại 440 N, phường P, TP Thanh Hóa, vợ chồng ông đã sống ly thân từ đó cho đến nay, không ai quan tâm đến ai. Nay, ông C xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được vì vậy ông đề nghị Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với bà S.

Về con chung: Ông C và bà S không có con chung vì vậy ông không yêu cầu Tòa án giải quyết về con chung.

Về tài sản, công nợ: Ông C không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Tại biên bản lấy lời khai của đương sự, bà S trình bày:

Về hôn nhân: Bà S thống nhất với lời khai của ông C về thời gian, điều kiện kết hôn. Quá trình chung sống, vợ chồng bà hạnh phúc đến năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống nên hay xảy ra va chạm, mặc dù bà đã cố gắng cải thiện tình cảm vợ chồng nhưng không có kết quả, mâu thuẫn ngày càng trở nên trầm trọng. Vợ chồng bà đã sống ly thân từ tháng 6/2018 đến nay, không ai quan tâm đến ai. Nay bà xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, ông C làm đơn khởi kiện ly hôn thì bà cũng đồng ý ly hôn.

Về con chung: Bà và ông C không có con chung nên bà không yêu cầu Tòa án giải quyết về con chung.

Về tài sản, công nợ: Bà S không yêu cầu Tòa án giải quyết. 

Thu thập chứng cứ tại địa phương phản ánh: Ông Hoàng Văn C và bà Lê Thị S là công dân phố P, phường P, TP T, tỉnh Thanh Hóa. Quá trình sinh sống tại địa phương, giữa ông C và bà S có phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hợp, bất đồng quan điểm sống. Ông C và bà S đã sống ly thân từ tháng 06/2018 cho đến nay. Ông C và bà Sớm không có con chung như ông bà trình bày.

Tại phiên tòa, ông C giữ nguyên yêu cầu ly hôn; về con chung: ông C và bà S không có con chung nên ông không yêu cầu Tòa án giải quyết về con chung; về tài sản công nợ: ông C không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và nguyên đơn đã tuân thủ thủ đúng quy định của pháp luật, bị đơn không đến Tòa án làm việc theo giấy triệu tập và thông báo của Tòa án là không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng. Về yêu cầu khởi kiện, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của ông C.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền: Đây là tranh chấp ly hôn. Việc Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa thụ lý, giải quyết là đúng quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về tố tụng: Bị đơn bà Lê Thị S đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa, do vậy Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt đối với bà S.

[3] Về hôn nhân: Ông C và bà S kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền là hôn nhân hợp pháp. Cả hai ông bà đều thừa nhận quá trình chung sống vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình vợ chồng không hợp, bất đồng quan điểm sống. Vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 6/2018 cho đến nay. Tại biên bản lấy lời khai của đương sự bà S cũng đồng ý ly hôn và đề nghị Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông C. Tuy nhiên bà S đã được triệu tập hợp lệ tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng bà S đã không có mặt tại Tòa án để tham gia phiên họp. Nay ông C xét thấy tình cảm vợ chồng giữa ông và bà S không còn, nên ông đề nghị Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn bà S. Xét thấy mâu thuẫn của ông bà đã đến mức trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn. Do đó Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân gia đình chấp nhận yêu cầu của ông C, cho ông được ly hôn bà S.

[4]. Về con chung: Ông C và bà S không có con chung nên ông bà không yêu cầu Tòa án giải quyết về con chung.

[5]. Về tài sản, công nợ: Ông C, bà S không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[6]. Về án phí: Ông Hoàng Văn C là người cao tuổi nên được miễn án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định tại điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 1 điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 56Luật Hôn nhân và gia đình;  điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/NQ- UBTVQH14.

Về hôn nhân: Xử cho ông Hoàng Văn C được ly hôn bà Lê Thị S.

Về con chung: Ông C, bà S không có con chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết về con chung.

Về tài sản, công nợ: Ông C, bà S không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí: Ông Hoàng Văn C được miễn 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm. Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận (hoặc ngày niêm yết) bản án./.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

119
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 07/2019/HNGĐ-ST ngày 28/03/2019 về ly hôn

Số hiệu:07/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Thanh Hóa - Thanh Hoá
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:28/03/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về