Bản án 07/2019/HNGĐ-ST ngày 18/02/2019 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHƯỚC LONG, TỈNH BÌNH PHƯỚC

BẢN ÁN 07/2019/HNGĐ-ST NGÀY 18/02/2019 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON 

Ngày 18 tháng 02 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Phước Long, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 201/2018/TLST - HNGĐ ngày 10 tháng 7 năm 2018 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2018/QĐXXHNGĐ - ST ngày 28 tháng 12 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số 03/2019/QĐST - HNGĐ ngày 17 tháng 01 năm 2019 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Lê Thị L, sinh năm 1988 (Có mặt)

Bị đơn: Ông Châu Văn Đ, sinh năm 1989 (Vắng mặt) Cùng trú tại: Đội G, thôn H, xã P, thị xã P, tỉnh Bình Phước.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Lê Thị L trình bày:

Bà Lê Thị L và ông Châu Văn Đ sau thời gian tìm hiểu đã tự nguyện kết hôn với nhau, có đăng ký kết hôn vào ngày 23/11/2012 tại Ủy ban nhân dân xã P, thị xã P, tỉnh Bình Phước và được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 70, quyển số 01/2012.

Sau khi bà L và ông Đ chung sống với nhau được một thời gian ngắn thì cuộc sống hôn nhân phát sinh những mâu thuẫn không thể giải quyết được, vợ chồng thường xuyên cãi nhau khiến cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, ông Đ có thói quen uống rượu nhiều, mặc dù bà L đã nhiều lần khuyên ngăn nhưng ông Đ không thay đổi, bà L và ông Đ đã ly thân được khoảng 01 năm, không ai quan tâm đến ai. Xét thấy mục đích hôn nhân không đạt được, nguyên đơn bà Lê Thị L yêu cầu Tòa án nhân dân Thị xã Phước Long giải quyết cho bà L được ly hôn với ông Châu Văn Đ.

Về con chung: Trong quá trình chung sống, bà L và ông Đ có 02 người con chung là Châu Văn N, sinh ngày 10/11/2007 và Châu Mỹ M, sinh ngày 26/9/2012. Bà L có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng các con chung cho đến khi các con chung thành niên đủ 18 tuổi, không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chun và nợ chung: Không có nên không yêu cầu tòa án giải quyết. Bị đơn ông Châu Văn Đ đã được Tòa án nhân dân thị xã Phước Long tiến hành triệu tập hợp lệ nhiều lần để hòa giải và xét xử nhưng ông Đ vắng mặt không có lý do nên căn cứ vào Điều 227 và Điều 228, Hội đồng xét xử tiến hành xử vắng mặt bị đơn.

Ý kiến của vị đại diện Viện kiểm sát:

- Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, thư ký và Hội đồng xét xử:đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã tuân thủ đúng trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Bị đơn được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng đều vắng mặt không có lý do. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử theo thủ tục vắng mặt của bị đơn là đúng quy định.

- Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 8, Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147, điểm b khoản 2 điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị L.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

[1] Đây là vụ án “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Phước Long theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự .

Bị đơn ông Châu Văn Đ đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt ông Đ là phù hợp quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung:

[2] Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị L và ông Châu Văn Đ kết hôn tự nguyện, có đăng kí kết hôn vào ngày 23/11/2012 tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện P (cũ), tỉnh Bình Phước; đây là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, bà L và ông Đ phát sinh nhiều mâu thuẫn dẫn đến bà L không muốn tiếp tục cuộc sống hôn nhân với ông Đ. Trong quá trình giải quyết vụ án, ông Đ đã được triệu tập hợp lệ đến Tòa án để trình bày ý kiến, tham gia hòa giải nhưng ông Đ đều vắng mặt không có lý do, điều này thể hiện ý chí của ông Đ không muốn vợ chồng hàn gắn đoàn tụ, không có nguyện vọng tìm cách khắc phục mâu thuẫn vợ chồng.

Quan hệ hôn nhân là sự tự nguyện giữa các bên, mâu thuẫn giữa bà L và ông Đ là trầm trọng khi tình cảm vợ chồng không còn, không thể tìm được tiếng nói chung trong cuộc sống, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, xét yêu cầu của nguyên đơn là phù hợp với Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình nên cần được chấp nhận.

[3] Về con chung: Đối với 02 con chung Châu Văn N, sinh ngày 10/11/2007 và Châu Mỹ M, sinh ngày 26/9/2012; xét thấy nguyện vọng của bà L muốn được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung, cũng như nguyện vọng của cháu N là được mẹ ruột nuôi dưỡng. Mặt khác, theo trình bày của bà L, hiện nay thu nhập của bà L trung bình khoảng 20.000.000 (Hai mươi triệu) đồng/tháng; có thể đảm bảo việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các con chung mà không cần ông Đ cấp dưỡng nuôi con chung. Căn cứ khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, cần giao con chung cho bà Lê Thị L trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung thành niên đủ 18 tuổi.

Bà L không yêu cầu ông Đ cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[4] Về tài sản chung và nợ chung: Bà Lê Thị L không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét trong vụ án này.

[5] Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà Lê Thị L phải chịu theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về án phí -lệ phí Tòa án;

Áp dụng Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Tuyên xử:

[1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị L được ly hôn với ông Châu Văn Đ.

[2] Về con chung: Giao con chung Châu Văn N, sinh ngày 10/11/2007 và Châu Mỹ M, sinh ngày 26/9/2012 cho bà Lê Thị L trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi các con chung thành niên đủ 18 tuổi. Ông Đ không cấp dưỡng nuôi con chung.

Ông Đ có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 Tòa án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con. Khi người có yêu cầu được quy định tại Điều 119 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 Tòa án có thể thay đổi về việc cấp dưỡng.

[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn - Bà Lê Thị L phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm không có giá ngạch, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí bà L đã nộp theo Biên lai thu số 0006031 ngày 10 tháng 7 năm 2018 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Phước Long, tỉnh Bình Phước.

Bị đơn - Ông Châu Văn Đ không phải chịu án phí.

[4] Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt, có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày tuyên án 18/02/2019, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại địa phương.

“Trường hợp Quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

193
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 07/2019/HNGĐ-ST ngày 18/02/2019 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

Số hiệu:07/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân - Bình Phước
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành: 18/02/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về