Bản án 07/2018/HNGĐ-ST ngày 15/01/2018 về tranh chấp ly hôn

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUỶ NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

BẢN ÁN 07/2018/HNGĐ-ST NGÀY 15/01/2018 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN

Ngày 15 tháng 01 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thuỷ Nguyên, thành phố  Hải Phòng xét xử  sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 679/2017/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 10 năm 2017 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 418/2017/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 12 năm 2017 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Vũ Thị D, sinh năm 1996. Địa chỉ: Thôn 9, xã PL, huyện TN, thành phố Hải Phòng. Vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Đức T, sinh năm 1994. Địa chỉ: Thôn LT, xã LL, huyện TN, thành phố Hải Phòng. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Về quan hệ hôn nhân: Chị Vũ Thị D và anh Nguyễn Đức T kết hôn với nhau vào năm 2017, trên cơ sở tìm hiểu tự nguyện, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã LL, huyện TN, thành phố Hải Phòng. Sau khi cưới, vợ chồng sinh sống tại thôn LT, xã LL, huyện TN, thành phố Hải Phòng. Cuộc sống vợ chồng hòa thuận hạnh phúc đến khoảng tháng 5 năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hòa hợp, vợ chồng không tin tưởng nhau, dẫn đến vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi mắng nhau. Mâu thuẫn vợ chồng căng thẳng và vợ chồng đã ly thân nhau từ tháng 6 năm 2017 đến nay. Nay, chị Vũ Thị D nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị được ly hôn anh Nguyễn Đức T. Về con chung: Vợ chồng không có con chung. Về tài sản chung: Vợ chồng không có tài sản chung nên không đề nghị Tòa án giải quyết.

Ý kiến và đề nghị của bị đơn: Anh Nguyễn Đức T đã được Tòa án tống đạt các văn bản và các quyết định tố tụng nhưng không có ý kiến gì về việc giải quyết vụ án.

Ý kiến của Viện kiểm sát: Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng quy định của pháp luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án; đương sự là nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của pháp luật kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Bị đơn không chấp hành quy định của pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự; các Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình giải quyết cho chị Vũ Thị D được ly hôn. Chị Vũ Thị D phải chịu án phí ly hôn theo quy định.

Các tài liệu, chứng cứ, tình tiết của vụ án: Giấy chứng nhận kết hôn số 04, của Ủy ban nhân dân xã LL, huyện TN, thành phố Hải Phòng xác định chị Vũ Thị D và anh Nguyễn Đức T kết hôn với nhau vào ngày 17 tháng 01 năm 2017; Tài liệu xác minh tại chính quyền địa phương, thôn xác định vợ chồng có mâu thuẫn từ khoảng tháng 6 năm 2017, nguyên nhân do tính tình vợ chồng không hòa hợp, vợ chồng không tin tưởng nhau, hay xẩy ra cãi mắng nhau. Anh Nguyễn Đức T hiện vẫn đang làm ăn, sinh sống tại đại phương, anh Nguyễn Đức T có biết việc chị Vũ Thị D xin ly hôn, biết việc Tòa án triệu tập nhưng không đến làm việc.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về tố tụng: Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt. Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai, bị đơn vắng mặt. Căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[2] Về hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị Vũ Thị D và anh Nguyễn Đức T được xác lập vào năm 2017 là hợp pháp. Tài liệu chứng cứ thu thập được thể hiện quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận hạnh phúc đến khoảng tháng 5 năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hòa hợp, bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không tin tưởng nhau dẫn đến vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi mắng nhau. Vợ chồng đã ly thân nhau từ tháng 5 năm 2017 đến nay. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án triệu tập anh Nguyễn Đức T hợp lệ lần thứ hai đến phiên tòa xét xử vụ án, nhưng anh Nguyễn Đức T đều vắng mặt, điều này thể hiện anh Nguyễn Đức T không muốn hòa giải. Chứng tỏ, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, chấp nhận đề nghị của chị Vũ Thị D là phù hợp Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình.

[3] Về con chung: Xác định vợ chồng không có con chung.

[4] Về tài sản chung: Không có yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

[5] Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội chị Vũ Thị D phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 28, Điều 35, Điều 147, Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Vũ Thị D được ly hôn anh Nguyễn Đức T.

2. Về án phí: Chị Vũ Thị D phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số 0005848 ngày 13 tháng 10 năm 2017 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng; chị Vũ Thị D đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


47
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 07/2018/HNGĐ-ST ngày 15/01/2018 về tranh chấp ly hôn

Số hiệu:07/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Thuỷ Nguyên - Hải Phòng
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 15/01/2018
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về