Bản án 07/2016/KDTM-ST ngày 28/12/2016 về tranh chấp hợp đồng mua bán

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TPTN, TỈNH T

BẢN ÁN 07/2016/KDTM-ST NGÀY 28/12/2016 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG MUA BÁN

Ngày 28/12/2016, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố TN xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 06/2016/TLST- KDTM -ST ngày 17 tháng  3 năm 2016 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 46/2016/TLST- KDTM-ST ngày 12 tháng 12 năm 2016, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Công ty CPKD Nông nghiệp QT

Đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Thế C – Tổng giám đốc

Người được y quyền: Ông Nguyễn Văn Đ

Địa chỉ: Cụm công nghiệp KT, phường CĐ, thành phố SC, tỉnh TN  (Có mặt tại phiên tòa

Bị đơn: Bà Lê Thị X

Trú tại: Tổ 4, phường TL, thành phố TN (Có mặt tại phiên tòa)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Ông: Hồ Xuân TH

Địa chỉ: Tổ 4, phường TL, thành phố TN (Có mặt tại phiên tòa)

NHẬN THẤY

Trong đơn khởi kiện, bản tự khai và tại phiên toà Nnguyên đơn là Công ty cổ phần kinh doanh nông nghiệp QT  - Người đại diện theo ủy quyền là ông Nguyễn Văn Đ trình bày:

Theo hợp đồng của Công ty cổ phần Nông nghiệp QT có lập hợp đồng mua bán thức ăn chăn nuôi với chị Lê Thị X, hợp đồng lập ngày 28/9/2015. Theo hợp đồng mua bán bắt đầu cung cấp hàng từ ngày 18/7/2015 đến ngày 28/9/2015. Theo hợp đồng hai bên thống nhất chị Lê Thị X phải thanh toán hết số tiền đã mua. Tôi trực tiếp cung cấp và bán thức ăn chăn nuôi gà cho chị Lê Thị Xuân. Địa chỉ: tổ 4, phường TL, thành phố TN là chủ trại gà, hai bên đã thống nhất mua bán hàng, thức ăn chăn nuôi. Theo hình thức trả chậm, có hợp đồng mua bán. Bắt đầu cung cấp hàng từ ngày 18/07/2015 đến ngày 28/09/2015. Theo hợp đồng hai bên thống nhất chị Lê Thị X phải thanh toán hết số tiền hàng đã mua. Nếu không thanh toán đúng, bên bán tĩnh lãi xuất 6%/tháng, tổng số tiền nợ theo hợp đồng hai bên đã ký. Nhưng vì ngày28/09/2015 chị X chưa xuất bán hết số gà đang chăn. Chị X yêu cầu cung cấp thêm thức ăn, sau vài ngày xuất bán hết thì thanh toán hết số tiền. Nên tôi cấp thêm thức ăn đến ngày 21/10/2015 kết thúc tổng số tiền hàng là 309.400.000đ (Ba trăm linh chín triệu, bốn trăm nghìn đồng) Sau khi chị X bán hết, tôi đề nghị chị X thanh toán tiền hàng trên. Chị X thanh toán 3 lần trả được 66.500.000đ (Sáu mươi sáu triệu năm trăm nghìn đồng), còn lại số tiền là 242.900.000đ tôi nhiều lần lên nhà chị X đề nghị đòi trả số tiền trên. Chị X hứa trả nhưng đến nay không trả.

Bà Lê Thị X trình bày: Tôi là Lê Thị X hiện đang cư trú tại tổ 4, phường TL, thành phố TN. Trong thời kỳ chăn nuôi khoảng 4 tháng anh Nguyễn Văn Đ có đầu tư cho tôi với số tiền cám là 242.900.000đ (đây là số tiền gốc) chưa tính lãi. Khi chăn nuôi gia đình tôi đầu tư nhưng bị thất thoát, thua lỗ vì vậy tôi chưa hoàn trả được số tiền cho anh Đ theo như trong hợp đồng đã ký. Nay tôi có nguyện vọng tôi sẽ trả cho anh Đ với số tiền là 50.000.000đ (năm mươi triệu đồng) trước, số tiền còn lại tôi sẽ trả dần cho đến hết.

Ông Hồ Xuân Th trình bày: Vợ tôi là Lê Thị X có mua của anh NguyễnVăn Đ cám để chăn nuôi gia cầm. Hiện nay còn nợ của anh Đ là 242.900.000đ (Hai trăm bốn mươi hai triệu, chín trăm nghìn đồng chẵn) do gia đình làm ăn thua lỗ chưa trả được theo hợp đồng đã thỏa thuận. Tôi cũng nhất trí với ý kiến của vợ tôi trong việc trả nợ cho anh Nguyễn Văn Đ và sẽ cùng có trách nhiệm trả nốt số nợ này cho Công ty.

XÉT THẤY

Sau khi nghiên cứu các tài  liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định :

Về tố tụng: Đây là vụ kiện tranh chấp hợp đồng mua bán quy định tại Điều 30, 35 BLTTDS do vậy thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân thành phố Thái Nguyên .

Về nội dung: Qua nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ và được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà.

Hội đồng xét xử thấy:

* Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Bà Lê Thị X nguyên là một khách hàng của Công ty cổ phần kinh doanh nông nghiệp QT. Căn cứ hợp đồng mua bán số 17.07-2015/HĐNT-IBA tổng số tiền hàng bà Lê Thị X còn nợ công ty cổ phần kinh doanh nông nghiệp QT tính đến ngày 22/02/2016 là: 242.900.000đ (Hai trăm bốn mươi hai triệu, chín trăm nghìn đồng). Số tiền trên đã quá hạn thanh toán lâu, Công ty đã nhiều lần yêu cầu bà X thanh toán nhưng bà X chỉ khất nợ mà không trả.Nay Công ty cổ phần Nông nghiệp QT yêu cầu bà X phải trả số nợ gốc là 242.900.000đ và lãi suất theo quy định pháp luật.

Quá trình giải quyết vụ án phía bị đơn bà Lê Thị X và người có quyền lợi  nghĩa  vụ liên quan ông Hồ Xuân Th xác định có nợ số tiền gốc 242.900.000đ và có ý kiến sẽ trả Công ty cổ phần kinh doanh nông nghiệp QT 50.000.0000đ trước, số còn nợ sẽ trả dần. Tuy nhiên phía Công ty cổ phần kinh doanh nông nghiệp QT không nhất trí.

HĐXX xác định đây là hợp đồng mua bán hàng hóa được ký kết giữa hai bên có tư cách pháp nhân đầy đủ, các điều khoản thỏa thuận giữa các bên là trên cơ sở tự nguyện, có hình thức và nội dung phù hợp với các quy định pháp luật. Quá trình thực hiện hợp đồng, bị đơn đã vi phạm điều khoản cam kết về thời hạn thanh toán vì vậy nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải trả toàn bộ số tiền còn nợ đã được hai bên thực hiện đối chiếu công nợ nhiều lần, lần cuối cùng thực hiện vào ngày 29/01/2016.

Do vậy, Hội đồng xét xử thấy có đủ căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của công ty cổ phần kinh doanh nông nghiệp QT, buộc bà Lê Thị X và ông Hồ Xuân Th phải trả số tiền nợ gốc 242.900.000đ

Tại phiên tòa hôm nay ông Nguyễn Văn Đ người được ủy quyền cho Công ty cổ phần kinh doanh nông nghiệp QT không yêu cầu tính lãi, nên HĐXX không đặt ra vấn đề giải quyết.

Về án phí: Bà Lê Thị X và ông Hồ Xuân Th phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm sung quỹ Nhà nước, trả lại số tiền tạm ứng án phí kinh doanh thương mại cho Công ty cổ phần kinh doanh nông nghiệp QT.

Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật. Bời các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng các Điều 30, Điều 35, Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điều 317; 319 Luật Thương mại; Điều 428; 438 Bộ luật dân sựPháp lệnh 10/UBTVQH12 ngày 27/02/2009 quy định về án phí lệ phí toà án; Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty cổ phần kinh doanh Nông nghiệp QT

- Buộc bà Lê Thị X và ông Hồ Xuân Th phải trả cho Công ty cổ phần kinh doanh nông nghiệp QT số tiền hàng là 242.900.000đ (Hai trăm bốn mươi hai triệu, chín trăm nghìn đồng).

4. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Bà X, ông Th phải nộp số tiền 12.145.000đ án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm nộp ngân sách nhà nước.

- Hoàn trả cho Công ty cổ phần kinh doanh nông nghiệp QT số tiền 6.072.000đ tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 004161 ngày 16/3/2016 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại điều 2Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện yêu cầu thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các quy định tại điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan. Báo cho biết các đương sự có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.


97
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 07/2016/KDTM-ST ngày 28/12/2016 về tranh chấp hợp đồng mua bán

Số hiệu:07/2016/KDTM-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Thái Nguyên - Thái Nguyên
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:28/12/2016
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về