Bản án 06/2020/HS-ST ngày 17/02/2020 về tội đánh bạc

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TAM KỲ, TỈNH QUẢNG NAM

BẢN ÁN 06/2020/HS-ST NGÀY 17/02/2020 VỀ TỘI ĐÁNH BẠC

Ngày 17 tháng 02 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam tiến hành mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 12/2020/TLST-HS ngày 20 tháng 1 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2020/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 02 năm 2020 đối với bị cáo:

Phm Đức C, sinh ngày 07 tháng 02 năm 1984; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Khối phố M, phường T, thành phố T, tỉnh Quảng Nam; nghề nghiệp: Thợ hồ; trình độ học vấn: 10/12; con ông Phạm S (đã chết) và bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1944; có vợ là Võ Phan Hạnh N (đã ly hôn); tiền án: Chưa; tiền sự: Ngày 25-02-2019, bị Công an phường Tân Thạnh, thành phố Tam Kỳ xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi Đánh bạc trái phép, nộp phạt ngày 25-3-2019; nhân thân: Ngày 10-5-2013, bị Công an phường Tân Thạnh, thành phố Tam Kỳ xử phạt vi phạm hành chính 1.000.000 đồng về hành vi Đánh bạc trái phép, bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú, đang tại ngoại, có mặt tại phiên toà.

- Người có nghĩa vụ liên quan đồng thời là người làm chứng:

1. Nguyễn Công B, sinh năm 1988; trú tại: Tổ 72, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng; vắng mặt.

2. Huỳnh Đức V, sinh năm 1992; trú tại: Khối phố M, phường T, thành phố T, tỉnh Quảng Nam,; vắng mặt.

3. Nguyễn Ngô Trường T, sinh năm 1994; trú tại: Thôn A, xã T, huyện P, tỉnh Quảng Nam; có mặt.

4. Phan Phi C, sinh năm 1989; trú tại: Khối phố T, phường T, thành phố T, tỉnh Quảng Nam; vắng mặt.

5. Ung Kiều T, sinh năm 1981; trú tại: Thôn X, xã T, thành phố T, tỉnh Quảng Nam; vắng mặt.

6. Nguyễn Văn T, sinh năm 1993; trú tại: Khối phố T, thị trấn P, huyện P, tỉnh Quảng Nam; có mặt.

7. Trương Công T, sinh năm 1991; trú tại: Thôn M, xã T, thành phố T, tỉnh Quảng Nam; có mặt.

8. Nguyễn Xuân T, sinh năm 1989; trú tại: Khối phố A, phường A, thành phố T, tỉnh Quảng Nam; vắng mặt.

9. Hồ Trọng B, sinh năm 1987; trú tại: Thôn T, xã B, huyện T, tỉnh Quảng Nam; vắng mặt.

10. Đoàn Văn M, sinh năm 1990; vắng mặt.

11. Võ Ngọc Đ, sinh năm 1974; vắng mặt.

Cùng trú tại: Khối phố M, phường T, thành phố T, tỉnh Quảng Nam.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Phạm Đức C đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc trái phép, chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính thì ngày 07-5-2019, tại quán cà phê V thuộc khối phố M, phường T, thành phố T, tỉnh Quảng Nam, bị cáo Phạm Đức C tiếp tục cùng Nguyễn Công B, Huỳnh Đức V, Phan Phi C, Ung Kiều T, Võ Ngọc Đ cùng một số đối tượng (không rõ lai lịch) đánh bạc trái phép được thua bằng tiền dưới hình thức xóc đĩa thì bị Công an bắt quả tang thu giữ tại chiếu bạc số tiền 250.000 đồng và nhiều vật chứng liên quan khác.

Quá trình điều tra xác định: Trong các lần cá cược, Nguyễn Công B là người chịu trách nhiệm cầm cái đồng thời cùng các đối tượng Huỳnh Đức V, Phan Phi C, Ung Kiều T, Võ Ngọc Đ và bị cáo C tham gia đặt cược. Trong đó, bị cáo C mang theo số tiền 130.000 đồng để đánh bạc, đã sử dụng 70.000 đồng và thua hết, còn lại 60.000 đồng; Nguyễn Công B mang theo 1.450.000 đồng, sử dụng 150.000 đồng để đánh bạc và thua hết; Huỳnh Đức V mang theo 2.940.000 đồng, sử dụng 20.000 đồng để đánh bạc và thua hết; Phan Phi C mang theo 1.600.000 đồng, sử dụng 90.000 đồng để đánh bạc, thua bạc 40.000 đồng; Ung Kiều T mang theo số tiền 600.000 đồng, sử dụng để đánh bạc 100.000 đồng và thua hết; Võ Ngọc Đ mang theo số tiền 70.000 đồng để đánh bạc, thua bạc 20.000 đồng.

Tổng số tiền bị cáo Phạm Đức C và những đối tượng trên sử dụng vào việc đánh bạc là 810.000 đồng.

Cáo trạng số 15/CT-VKS ngày 17-01-2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Kỳ truy tố bị cáo Phạm Đức C về tội "Đánh bạc" theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 35 Bộ luật Hình sự 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Phạm Đức C từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng, xử lý vật chứng theo quy định pháp luật.

Tại lời nói sau cùng, bị cáo nhận thức được hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra Công an thành phố Tam Kỳ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Kỳ, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[2] Về nội dung:

[2.1] Đối chiếu lời khai nhận của bị cáo với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử kết luận: Bị cáo Phạm Đức C đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc trái phép, trong thời gian chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính thì ngày 07-5-2019, tại quán cà phê V thuộc khối phố M, phường T, thành phố T, tỉnh Quảng Nam, bị cáo cùng Nguyễn Công B, Huỳnh Đức V, Phan Phi C, Ung Kiều T, Võ Ngọc Đ cùng một số đối tượng (không rõ lai lịch) đánh bạc trái phép được thua bằng tiền dưới hình thức xóc đĩa với tổng số tiền là 810.000 đồng.

Hành vi trên của bị cáo Phạm Đức C đã phạm tội “Đánh bạc”, quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Kỳ truy tố đối với bị cáo là đúng pháp luật.

[2.2] Hành vi của bị cáo là cố ý, ảnh hưởng xấu đến nếp sống văn hóa, tình hình trật tự tại địa phương, bị cáo nhiều lần xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Đánh bạc trái phép, vì vậy cần áp dụng hình phạt tương xứng với tính chất mức độ hành vi thực hiện. Tuy nhiên, trong quá trình tố tụng bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội; số tiền bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc không lớn nên Hội đồng xét xử sẽ xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, tính chất hành vi ít nghiêm trọng, có nơi cư trú ổn định nên không cần áp dụng hình phạt tù mà chỉ cần áp dụng hình phạt chính bằng tiền cũng đủ sức răn đe, giáo dục, vừa đảm bảo công tác phòng, chống tội phạm tại địa phương.

[2.3] Về vật chứng và vấn đề liên quan trong vụ án:

Đối với 01 bộ chén dĩa; 04 con vị xóc đĩa là công cụ phạm tội của bị cáo Phạm Đức C, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu huỷ.

Đối với số tiền 250.000 đồng là tiền thu giữ tại chiếu bạc và số tiền 160.000 đồng thu giữ của bị cáo Phạm Đức C, Phan Phi C, Đ sử dụng vào mục đích đánh bạc trái phép nên tịch thu sung ngân sách nhà nước.

Đối với số tiền 1.300.000 đồng thu giữ của Nguyễn Công B; số tiền 2.920.000 đồng thu giữ của Huỳnh Đức V; số tiền 1.500.000 đồng thu giữ của Phan Phi C; số tiền 500.000 đồng thu giữ của Ung Kiều T, do không liên quan đến hành vi đánh bạc trái phép nên cần trả lại số tiền trên cho chủ sở hữu.

Đối với nhiều tài sản khác là điện thoại di động và xe mô tô thu giữ gồm:

01 điện thoại Philip (loại bàn phím), 01 xe mô tô BKS: 92N1 - 438.64 của Võ Ngọc Đ; 01 điện thoại Samsung J7 prime, 01 xe mô tô BKS: 92B1 - 314.87 của Ung Kiều T; 01 điện thoại FPT (loại bàn phím) của Phan Phi C; 01 điện thoại Nokia 105, 01 xe mô tô BKS: 92L1 - 286.84 của Nguyễn Công B; 01 điện thoại Asus, 01 xe mô tô BKS: 92B1 - 095.24 của Huỳnh Đức V; 01 điện thoại di động hiệu Samsung J7 Pro, 01 điện thoại di động Nokia bàn phím, 01 xe mô tô BKS:

92E1 - 372.01 của Nguyễn Xuân T; 01 điện thoại di động Nokia 105, 01 xe mô tô BKS: 92N7 - 3618 của Trương Công T; 01 điện thoại di động Iphone 6, số tiền 100.000 đồng, 01 xe mô tô BKS: 92L1 - 142.24 của Nguyễn Ngô Trường T;

01 điện thoại di động hiệu Nokia 105 màu xanh, 01 xe mô tô BKS: 92L1 - 236.62 của Nguyễn Văn T; 01 điện thoại di động hiệu Samsung J7 Prime, 01 điện thoại di động hiệu Nokia 730, số tiền 254.000 đồng, 01 xe mô tô BKS:

92L9 - 1334 của Hồ Trọng B do không liên quan đến hành vi đánh bạc trái phép nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho những người này là phù hợp.

Nguyễn Công B, Huỳnh Đức V, Phan Phi Công, Ung Kiều T, Võ Ngọc Đ đã có hành vi đánh bạc nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với những người trên là phù hợp.

Không có căn cứ xác định chủ quán cà phê V biết được cũng như có liên quan đến hành vi đánh bạc trái phép; không xác định được lai lịch những đối tượng cùng tham gia đánh bạc với bị cáo Phạm Đức C nên không xử lý.

Các đối tượng Nguyễn Văn T, Nguyễn Xuân T, Trương Công T, Nguyễn Ngô Trường T, Đoàn Văn M, Hồ Trọng B là những người đứng xem, không tham gia đánh bạc nên không có cơ sở xử lý.

[2.4] Về án phí: Bị cáo Phạm Đức C phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

1. Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 35; Điều 47 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên bố bị cáo Phạm Đức C phạm tội “Đánh bạc”.

Xử phạt bị cáo Phạm Đức C 25.000.000 đồng (hai mươi lăm triệu đồng).

2. Tịch thu tiêu huỷ 01 bộ chén dĩa; 04 con vị xóc đĩa.

Tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền 410.000 đồng (trong đó có 250.000 đồng là tiền thu giữ tại chiếu bạc và số tiền 160.000 đồng thu giữ của bị cáo Phạm Đức C, Phan Phi C, Võ Ngọc Đ sử dụng vào mục đích đánh bạc trái phép).

Trả lại số tiền không liên quan đến hành vi đánh bạc trái phép cho các chủ sở hữu, cụ thể: Nguyễn Công B 1.300.000 đồng; Huỳnh Đức V 2.920.000 đồng; Phan Phi C 1.500.000 đồng; Ung Kiều T 500.000 đồng.

(Vật chứng, số tiền 6.630.000 đồng đang được tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tam Kỳ theo biên bản giao nhận ngày 21-01-2020) 3. Buộc bị cáo Phạm Đức C phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, người tham gia tố tụng có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Những người tham gia tố tụng vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được trích sao bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 9 luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được quy định theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


1
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 06/2020/HS-ST ngày 17/02/2020 về tội đánh bạc

Số hiệu:06/2020/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Tam Kỳ - Quảng Nam
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:17/02/2020
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về