Bản án 06/2020/HS-ST ngày 09/01/2020 về tội đánh bạc

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH, TỈNH NINH BÌNH

BẢN ÁN 06/2020/HS-ST NGÀY 09/01/2020 VỀ TỘI ĐÁNH BẠC

Ngày 09 tháng 01 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm (theo thủ tục rút gọn ) công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 183/2019/TLST- HS ngày 24 tháng 12 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2020/QĐXXST-HS, ngày 02 tháng 01 năm 2020 đối với các bị cáo:

1.1. Họ và tên: Đào Văn Đ ( tên gọi khác: Không), sinh năm 1989; tại thành phố N, tỉnh Ninh Bình; Nơi cư trú: phố B, phường K, thành phố N, tỉnh Ninh Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đào Văn Đ1 và bà Hoàng Thị H;Vợ: Lê Thị H1; con: có 02 con, con lớn sinh năm 2013, con nhỏ sinh năm 2015; Tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 29/11/2019 đến ngày 02/12/2019 được thay thế bằng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay (có mặt).

1.2. Họ và tên: Nguyễn Đình N ( tên gọi khác: Không), sinh năm 1989; tại thành phố N, tỉnh Ninh Bình; Nơi cư trú: phố K, phường N, thành phố N, tỉnh Ninh Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam ; Con ông Nguyễn Đình Q và bà Phạm Thị Y ;Vợ: Bùi Thị Hải V; con: có 02 con, con lớn sinh năm 2013, con nhỏ sinh năm 2017; Tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 29/11/2019 đến ngày 02/12/2019 được thay thế bằng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay (có mặt).

- Người chứng kiến: Anh Nguyễn Văn L, sinh năm 1991; (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt nhau sau:

Đào Văn Đ và Nguyễn Đình N là bạn bè thường xuyên chơi với nhau, Đ nói với N khi có nhu cầu chơi số lô, đề thì nhắn tin vào điện thoại cho Đ, Đ sẽ nhận và đối chiếu với kết quả xổ số kiến thiết miền Bắc mở thưởng trong ngày để thanh toán tiền thắng thua với N, việc thanh toán tiền được thực hiện vào ngày hôm sau. Hành vi đánh bạc dưới hình thức “chơi số lô, số đề” được thua bằng tiền của Đào Văn Đ và Nguyễn Đình N được thống nhất cách thức, phương thức chơi như sau:

+ Đối với “số đề”: Người chơi chọn mua một hoặc nhiều cặp số bất kỳ từ 00 đến 99, giá trị mua bao nhiêu tiền là tùy người chơi. Cách tính thắng thua như sau: nếu cặp số của N mua trùng với hai số cuối của giải đặc biệt xổ số kiến thiết miền Bắc mở thưởng trong ngày thì N “trúng đề” và Đ phải thanh toán cho N số tiền có giá trị gấp tám mươi lần số tiền N đã bỏ ra mua số đề; Ngược lại nếu các cặp số đề N mua của Đ không trúng thưởng thì Đ được hưởng toàn bộ số tiền N đã bỏ ra mua các số đề.

+ Đối với “số lô Hà Nội”: người chơi chọn mua một hoặc nhiều cặp số lô bất kỳ từ cặp số 00 đến cặp số 99, mua bao nhiêu cặp số lô và giá trị bao nhiêu là tùy người chơi. Cách tính thắng thua như sau: nếu cặp số lô của N mua trùng khớp với hai số cuối của một hoặc các giải thưởng trong 7 giải xổ số kiến thiết miền Bắc mở thưởng trong ngày thì N “trúng lô”; lô đánh 1 điểm tương ứng với 21.800 đồng, trúng một giải thì được nhận 80.000 đồng, trúng hai giải thì được nhận 160.000 đồng và Đ phải thanh toán cho N số tiền trúng thưởng ; Ngược lại, nếu các số lô N mua của Đ không trúng thưởng thì Đ được hưởng toàn bộ số tiền N đã bỏ ra mua các cặp số trong các bảng lô.

Khoảng 17 giờ 51 phút, ngày 28/11/2019 N đã sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X lắp sim 0816.116.262 đăng nhập vào tài khoản zalo của mình có tên “Gia Hưng” nhắn tin đến tài khoản zalo “Quyết đại ca” của Đào Văn Đ để mua các số lô, số đề như sau: Số lô Hà Nội gồm các số 69, 96 x 50 điểm ( 21.800đồng/điểm) = 2.180.000đồng; số đề gồm các số 62, 26,16, 61, 25, 52, 32, 23,55, 56, 65 x 100.000đ/ cặp = 1.100.000 đồng; số đề gồm các số 89, 90, 91 x 50.000đ/ cặp = 150.000 đồng. Tổng số tiền N mua các số lô, số đề của Đ là 3.430.000 đồng. Sau khi N nhắn tin mua các số lô, số đề thì Đ đồng ý và nhắn tin xác nhận lại là “ok”. Hành vi đánh bạc của N và Đ bị phát hiện sau khi có kết quả mở thưởng xổ số kiến thiết miền Bắc ngày 28/11/2019, đối chiếu kết quả thì N đã trúng thưởng số lô ghi số 69 là 50 điểm x 80.000 đồng/điểm = 4.000.000 đồng và trúng số đề ghi số 32 là 100.000 đồng x 80.000 đồng = 8.000.000 đồng. Như vậy tổng số tiền mà Đào Văn Đ và Nguyễn Đình N dùng đánh bạc ngày 28/11/2019 là 15.430.000 đồng. N và Đ chưa thanh toán với nhau số tiền mua và trúng số lô, đề.

Khong 20 giờ 30 phút, ngày 28/11/2019, N tham gia vào sự việc cãi nhau gây mất trật tự tại khu dân cư thuộc khu vực phố T, phường N, thành phố N. Ngày 29/11/2019 Cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố Ninh Bình đã triệu tập N lên làm rõ nội dung sự việc. Quá trình làm việc N đã viết đơn xin tự thú hành vi đánh bạc dưới hình thức “chơi số lô, số đề” được thua bằng tiền với Đào Văn Đ ngày 28/11/2019 và giao nộp 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone X lắp sim 0816.116.262 , kiểm tra tài khoản Zalo “Gia Hưng” trong máy điện thoại thu giữ của N có nội dung nhắn tin mua các số lô, số đề với tài khoản Zalo “Quyết đại ca” của Đào Văn Đ ngày 28/11/2019. Cơ quan điều tra đã triệu tập Đào Văn Đ lên làm việc, do biết không thể che dấu được hành vi phạm tội của mình Đào Văn Đ đã viết đơn xin đầu thú hành vi đánh bạc với N, đồng thời giao nộp cho cơ quan điều tra 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s lắp sim 0944.741.989 trong máy có cài đặt tài khoản Zalo “ Quyết đại ca” để nhận số lô, số đề của Nguyễn Đình N ngày 28/11/2019.

Qúa trình điều tra các bị cáo Nguyễn Đình N, Đào Văn Đ đã thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình.

Tại quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn số 01/CT- VKS ngày 24 tháng 12 năm 2019, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình truy tố các bị cáo Nguyễn Đình N, Đào Văn Đ ra trước Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình để xét xử về tội “Đánh bạc” theo khoản 1, khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà Kiểm sát viên tham gia phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Đình N, Đào Văn Đ phạm tội “Đánh bạc”. Áp dụng: khoản 1 Điều 321; Điều 35; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; Xử phạt: Bị cáo Đào Văn Đ từ 22.000.000đ đến 25.000.000 đồng để sung quỹ nhà nước. Áp dụng: khoản 1 Điều 321; Điều 35; điểm i , r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đình N từ 20.000.000đ đến 22.000.000đồng để sung quỹ nhà nước. Xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu sung quỹ nhà nước: 01chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone X lắp sim 0816.116.262 thu giữ của Nguyễn Đình N và 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 6s lắp sim 0944.741.989 thu giữ của Đào Văn Đ. Buộc bị cáo Đào Văn Đ phải nộp lại số tiền đánh bạc là 12.000.000đồng, Nguyễn Đình N phải nộp lại số tiền đánh bạc là 3.430.000 đồng để sung ngân sách nhà nước . Về án phí: Các bị cáo bị xét xử nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Tại phiên tòa các bị cáo Đào Văn Đ, Nguyễn Đình N khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn, không có ý kiến tranh luận gì và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo không có khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Về tội danh, hình phạt đối với các bị cáo: Tại phiên toà các bị cáo Đào Văn Đ, Nguyễn Đình N đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung quyết định truy tố; Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như biên bản tiếp nhận người phạm tội ra tự thú, đầu thú, vật chứng thu giữ, biên bản kiểm tra điện thoại, biên bản xác minh kết quả xổ số kiến thiết miền Bắc... Như vậy có đủ cơ sở kết luận: Ngày 28/11/2019 các bị cáo Đào Văn Đ, Nguyễn Đình N đã có hành vi đánh bạc trái phép được thua bằng tiền dưới hình thức chơi số lô, số đề qua tin nhắn sử dụng tài khoản zalo trên điện thoại di động; Tổng số tiền các bị cáo dùng đánh bạc là 15.430.000 đồng ( trong đó số tiền mua số lô, số đề là 3.430.000 đồng, số tiền trúng số lô, số đề là 12.000.000 đồng). Hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự .

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự công cộng , gây mất trật tự an ninh ở địa phương, ảnh hưởng xấu đến đời sống xã hội. Từ việc đánh bạc dẫn đến tiêu tán tài sản, kinh tế của nhiều gia đình, cá nhân và là nguyên nhân làm phát sinh nhiều tội phạm khác. Các bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ đánh bạc dưới hình thức chơi số lô, số đề được thua bằng tiền là một hình thức đánh bạc bị Nhà nước cấm, nhưng vì lười lao động, muốn kiếm tiền nhanh chóng nên các bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Để đảm bảo trật tự, an toàn xã hội, có tác dụng giáo dục đối với các bị cáo và phòng ngừa chung thì việc truy tố, xét xử và buộc các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự là cần thiết.

Về nhân thân: Các bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự . Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có.

Về tình tiết giảm nhẹ: các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; quá trình điều tra bị cáo N đã tự thú, bị cáo Đ đã đầu thú hành vi đánh bạc của mình. Do vậy bị cáo Đ được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; bị cáo N được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i , r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Các bị cáo phạm tội có tính chất đồng phạm giản đơn, đều là những người thực hiện. Bị cáo Đ nhận các số lô, số đề của bị cáo N mua và là người trực tiếp trả tiền trúng thưởng cho bị cáo N nên bị cáo Đ là chủ đề còn bị cáo N là người chơi. Tuy hai bị cáo chưa thanh toán số tiền mua, trúng số lô, số đề cho nhau nhưng hành vi mua bán số lô, số đề của các bị cáo đã thực hiện xong do có thỏa thuận thanh toán tiền thắng thua vào ngày hôm sau vì vậy bị cáo Đ giữ vai trò đầu vụ và phải chịu mức hình phạt cao hơn bị cáo N.

Căn cứ tính chất mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo, xét thấy các bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên chỉ cần áp dụng hình phạt chính là hình phạt tiền cũng đủ điều kiện giáo dục, cải tạo các bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp.

Về hình phạt bổ sung: Do áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính nên không áp dụng hình phật bổ sung là phạt tiền đối vối bị cáo.

[4] Các vấn đề khác:

- Đối với hành vi cãi chửi nhau gây mất trật tự tại khu dân cư của bị cáo Nguyễn Đình N ngày 28/11/2019 ở phố T, phường N, thành phố N. Công an phường N, thành phố N đã lập biên bản sự việc, thẩm quyền xử lý thuộc Công an phường N, thành phố N nên không xem xét trong vụ án này.

- Các biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:

Đi với 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone X lắp sim 0816.116.262 thu giữ của Nguyễn Đình N và 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 6s lắp sim 0944.741.989 thu giữ của Đào Văn Đ: Quá trình điều tra xác định đây là tài sản của các bị cáo sử dụng làm công cụ nhắn tin đánh bạc nên cần tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.

Đi với số tiền dùng vào việc đánh bạc: Bị cáo N đã sử dụng số tiền 3.430.000 đồng ( mua số lô, số đề của bị cáo Đ) , bị cáo Đ đã sử dụng số tiền 12.000.000 đồng ( số tiền bỏ ra để trả cho bị cáo N trúng số lô, số đề) để đánh bạc với nhau. Các bị cáo chưa thanh toán tiền mua và trúng cho nhau. Do vậy cần buộc các bị cáo phải nộp lại để tịch thu sung vào Ngân sách nhà nước.

Các bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Đào Văn Đ;

Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, r, s khoản 1 Điều 51, Điều 35 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Đình N;

Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106; Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án.

- Tuyên bố: Các bị cáo Đào Văn Đ, Nguyễn Đình N phạm tội “ Đánh bạc”.

- Xử phạt:

Bị cáo Đào Văn Đ 22.000.000đồng ( Hai mươi hai triệu đồng) để nộp Ngân sách nhà nước.

Bị cáo Nguyễn Đình N 20.000.000 đồng( Hai mươi triệu đồng) để nộp Ngân sách nhà nước.

- Các biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:

Tch thu, nộp ngân sách Nhà nước: 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone X lắp sim 0816.116.262 của bị cáo Nguyễn Đình N ; 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 6s lắp sim 0944.741.989 của bị cáo Đào Văn Đ. (Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 30/12/2019 giữa Cơ quan CSĐT Công an thành phố Ninh Bình và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Ninh Bình).

- Buộc các bị cáo phải nộp lại số tiền dùng đánh bạc để tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: Bị cáo Nguyễn Đình N phải nộp lại số tiền là 3.430.000 đồng ( Ba triệu bốn trăm ba mươi nghìn đồng); Bị cáo Đào Văn Đ phải nộp lại số tiền là 12.000.000 ( Mười hai triệu đồng).

- Về án phí: Các bị cáo Đào Văn Đ, Nguyễn Đình N mỗi bị cáo phải chịu 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử sơ thẩm công khai các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Áp dụng Điều 26 Luật Thi hành án dân sự: “Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”./.


103
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 06/2020/HS-ST ngày 09/01/2020 về tội đánh bạc

Số hiệu:06/2020/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Ninh Bình - Ninh Bình
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 09/01/2020
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về