Bản án 06/2019/HNGĐ-ST ngày 28/02/2019 về ly hôn

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TP THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN

BẢN ÁN 06/2019/HNGĐ-ST NGÀY 28/02/2019 VỀ LY HÔN

Ngày 28/02/2019 tại trụ sở Toà án nhân dân Thành phố Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 577/2018/TLST-HNGĐ ngày 06/8/2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 112/2018/QĐXX-ST ngày 28/12/2018 giữa các đương sự:

*Nguyên Đơn: Bà Hồ Thị H, sinh năm 1972;

ĐKHKTT: Tổ X, phường T, thành phố T.N, tỉnh Thái Nguyên.

Nơi ở: Tổ Y, phường P, thành phố T.N, tỉnh Thái Nguyên.

Dân tộc: Kinh; nghề nghiệp: Lao động tự do; Văn hóa: Lớp 12/12. (có mặt tại phiên tòa)

*Bị Đơn: Ông Lê Hồng T, sinh năm 1959;

ĐKHKTT: Tổ X, phường T, thành phố T.N, tỉnh Thái Nguyên.

Nơi ở: Tổ Y, phường P, thành phố T.N, tỉnh Thái Nguyên. Dân tộc: Kinh; nghề nghiệp: Hưu trí; Văn hóa: Lớp 10/10. (có mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện, bản tự khai và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Hồ Thị H trình bày:

Bà và ông Lê Hồng T kết hôn năm 1993 trên cơ sở tự nguyện, không bị ép buộc, có được đăng ký kết hôn tại UBND phường Phan Đình Phùng, thành phố Thái Nguyên. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống không có hạnh phúc, mâu thuẫn xảy ra đã trầm trọng do bất đồng quan điểm sống, ông T là người không có trách nhiệm với gia đình, không quan tâm đến vợ con nên hai vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã làm cho cuộc sống gia đình luôn trong tình trạng căng thẳng làm ảnh hưởng đến công việc cũng như tâm lý của con chung, từ khoảng 10 năm nay vợ chồng ở cùng nhà nhưng không ai quan tâm đến ai. Tại phiên toà ngày hôm nay, bà H vẫn xác định không còn tình cảm vợ chồng, mục đích hôn nhân không đạt được nên xin được ly hôn với ông T để giải phóng cho nhau.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Lê Quang V, sinh ngày 17/9/1993; Lê Hồng S, sinh ngày 06/11/2003.

Khi ly hôn, bà H yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung Lê Hồng S đến khi trưởng thành. Đối với con chung Lê Quang V hiện nay đã thành niên nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về cấp dưỡng nuôi con: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Không có.

Nợ chung: Xin tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn ông Lê Hồng T trình bày: Ông và bà Hồ Thị H kết hôn năm 1993 trên cơ sở tự nguyện, không bị ép buộc, có được đăng ký kết hôn tại UBND phường Phan Đình Phùng, thành phố Thái Nguyên. Trong cuộc sống vợ chồng cũng có nhiều mâu thuẫn xảy ra do lỗi của ông cũng như của bà H nhưng quan điểm của ông hiện nay không nhất trí ly hôn, ông mong muốn hai vợ chồng suy nghĩ lại cùng nhau vượt qua khó khăn để xây dựng gia đình hạnh phúc, nuôi dưỡng các con trưởng thành.

Vợ chồng có 02 con chung là Lê Quang V, sinh ngày 17/9/1993; Lê Hồng S, sinh ngày 06/11/2003.

Nếu Tòa án giải quyết ly hôn, ông sẽ theo nguyên vọng của các con, nếu con muốn ở với ai thì người đó sẽ có trách nhiệm nuôi dưỡng. Tại phiên tòa, ông T có ý kiến nếu Tòa án giải quyết cho ông và bà H ly hôn, ông nhất trí để cho bà H nuôi dưỡng con chung Lê Hồng S đến khi trưởng thành.

Về tài sản chungÔng T xác định vợ chồng có tài sản chung là 01 nhà sàn gỗ được xây dựng trên thửa đất số 254, tờ bản đồ số 16, diện tích 84 m2 thuộc tổ Y, phường P, thành phố T.N, tỉnh Thái Nguyên.

Nợ chung: Hiện nay vợ chồng còn nợ bà Đặng Phong L số tiền còn lại sau khi kê biên phát mại tài sản để thi hành án là 1.583.000.000đ và nợ ông Phạm Văn H số tiền 32.000.000đ tiền công xây dựng nhà (Tòa án đã xét xử buộc ông và bà H trả nợ ông Hào bằng bản án dân sự đã có hiệu lực pháp luật từ năm 2011).

Nếu Tòa án giải quyết ly hôn, ông đề nghị Tòa án chia tài sản chung, nợ chung theo quy định của pháp luật.

Ngày 07/11/2018 ông T có đơn yêu cầu Tòa án chia tài sản chung của vợ chồng, ngày 22/11/2018 Tòa án đã giao thông báo nộp tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch cho ông Lê Hồng T, tuy nhiên ông T không nộp tiền tạm ứng án phí theo thông báo của Tòa án. Tại phiên tòa, ông T cũng không nhất trí nộp tiền tạm ứng án phí chia tài sản vì ông cho rằng việc ông phải nộp tiền tạm ứng án phí là vô lý.

Tòa án đã tiến hành hòa giải để các đương sự thỏa thuận với nhau về toàn bộ nội dung của vụ án nhưng các bên vẫn giữ nguyên ý kiến, vì vậy Tòa án phải đưa vụ kiện ra xét xử tại phiên tòa công khai ngày hôm nay.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa.

Hôi đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

- Về thẩm quyền: Đây là vụ kiện ly hôn, tại thời điểm thụ lý vụ án, bị đơn có nơi cư trú tại thành phố Thái Nguyên như vậy theo quy định tại Điều 28, 35, điểm a, khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên.

- Tại phiên tòa, ông T tham gia tố tụng, tuy nhiên khi Hội đồng xét xử đang hỏi ông T để làm rõ yêu cầu về việc chia tài sản thì ông đã tự ý bỏ về. Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án.

Về nội dung:

Bà Hồ Thị H và ông Lê Hồng T kết hôn năm 1993 trên cơ sở tự nguyện, không bị ép buộc, có được đăng ký kết hôn tại UBND phường Phan Đình Phùng, thành phố Thái Nguyên nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp.

Về nguyên nhân dẫn đến việc ly hôn: Bà H xác định mâu thuẫn vợ chồng phát sinh do bất đồng quan điểm sống, ông T là người không có trách nhiệm với gia đình, không quan tâm đến vợ con nên hai vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã làm cho cuộc sống gia đình luôn trong tình trạng căng thẳng làm ảnh hưởng đến công việc cũng như tâm lý của con chung, đã hơn 10 năm nay vợ chồng không ai quan tâm đến ai. Tại phiên tòa, bà H vẫn xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng không hòa giải được, mục đích hôn nhân không đạt được, bà xin được ly hôn để giải phóng cho nhau. Ông T xác định trong cuộc sống vợ chồng cũng có nhiều mâu thuẫn xảy ra do lỗi của ông cũng như của bà H nhưng quan điểm của ông hiện nay không nhất trí ly hôn, ông mong muốn hai vợ chồng có suy nghĩ lại cùng nhau vượt qua khó khăn để xây dựng gia đình hạnh phúc, nuôi dưỡng các con trưởng thành.

HĐXX thấy rằng: Mâu thuẫn của bà H và ông T đã trầm trọng, quan hệ hôn nhân giữa các đương sự đã thực sự tan vỡ, việc duy trì quan hệ hôn nhân cũng không mang lại hạnh phúc cho cả hai bên, mục đích hôn nhân không đạt được, vì vậy cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hồ Thị H, cho bà H được ly hôn ông Lê hồng T là phù hợp với thực tế và phù hợp với quy định tại Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Lê Quang V, sinh ngày 17/9/1993, Lê Hồng S, sinh ngày 06/11/2003.

Khi ly hôn, bà H có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung Lê Hồng S, sinh ngày 06/11/2003 đến khi trưởng thành (18 tuổi), cháu S cũng có nguyện vọng muốn ở với bà H.

Ý kiến của ông T: Nhất trí để bà H nuôi dưỡng cháu S nếu tòa án giải quyết ly hôn.

Theo quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình quy định:

“ 1. Sau khi ly hôn, cha, mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thoả thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; Trường hợp không thoả thuận được thì Toà án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con”.

Hội đồng xét xử xét thấy: Tại phiên tòa, ông T và bà H thỏa thuận bà H là người trực tiếp nuôi dưỡng con chung Lê Hồng S, nguyện vọng của cháu cũng muốn ở với mẹ. Hội đồng xét xử thấy việc thỏa thuận nuôi con chung của bà H và ông T là phù hợp với quy định của pháp luật, đảm bảo được quyền lợi của con chung, do vậy cần công nhận sự thỏa thuận của bà H và ông T về việc nuôi dưỡng con chung. Giao cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung là Lê Hồng S, sinh ngày 06/11/2003 đến khi con đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác.

Ông T có quyền đi lại thăm con chung.

Về cấp dưỡng nuôi con: Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết do các đương sự không có yêu cầu.

Đối với con chung hiện nay Lê Quang V, sinh ngày 17/9/1993 đã thành niên nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung:

Ngày 07/11/2018, ông Lê Hồng T có đơn yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng là 01 nhà sàn gỗ được xây dựng trên thửa đất số 254 tờ bản đồ số 16, diện tích 84 m2 thuộc tổ Y, phường P, thành phố T.N, tỉnh Thái Nguyên (ông chỉ yêu cầu chia giá trị nhà, không yêu cầu chia giá trị quyền sử dụng đất). Ngày 22/11/2018 Tòa án đã giao thông báo nộp tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch cho ông Lê Hồng T, tuy nhiên ông T không nộp tiền tạm ứng án phí theo thông báo của Tòa án. Tại phiên tòa, ông T đã được Hội đồng xét xử giải thích về nghĩa vụ nộp tiền tạm ứng án phí theo qquy định của pháp luật, tuy nhiên ông T vẫn không nhất trí nộp. Do vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết, nếu sau khi ly hôn, ông T và bà H có tranh chấp về việc chia tài sản chung của vợ chồng thì sẽ khởi kiện để giải quyết bằng một vụ án khác.

Về nợ chung: Ông T trình bày hiện nay vợ chồng còn nợ bà Đặng Phong L số tiền còn lại sau khi kê biên để thi hành án là 1.583.000.000đ và nợ ông Phạm Văn H số tiền 32.000.000đ, bà H cũng thừa nhận 02 khoản nợ như ông T đã khai. Hội đồng xét xử xét thấy, 02 khoản nợ này đã được giải quyết bằng bản án đã có hiệu lực pháp luật nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết trong vụ án này.

Về án phí: Căn cứ Điều 146, 147 Bộ luật tố tụng dân sự, Luật phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết số 326/2016 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội bà H phải nộp 300.000đ án phí LHST vào ngân sách nhà nước được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng Điều 28, 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 146, 147, Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, các Điều 51,56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014; Các Điều 2,6,7, 9 30 Luật thi hành án dân sự; Luật phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hồ Thị H.

+ Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Hồ Thị H được ly hôn ông Lê Hồng T.

+ Về con chung: Công nhận sự thỏa thuận của ông Lê Hồng T và bà Hồ Thị H về việc nuôi con chung: Giao cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung là Lê Hồng S, sinh ngày 06/11/2003 đến khi con đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác.

Ông T có quyền đi lại thăm con chung.

Về cấp dưỡng nuôi con: Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết do các đương sự không có yêu cầu.

Đối với con chung Lê Quang V, sinh ngày 17/9/1993 hiện nay đã thành niên nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Về án phí: bà H phải nộp 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm vào ngân sách nhà nước được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0006669 ngày 06/8/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên.

Về quyền kháng cáo: Bà H, ông T có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện yêu cầu thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các Điều 6,7, 9 Luật thi hành án dân sự: thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

91
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 06/2019/HNGĐ-ST ngày 28/02/2019 về ly hôn

Số hiệu:06/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Thái Nguyên - Thái Nguyên
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:28/02/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về