Bản án 06/2019/HNGĐ-ST ngày 22/02/2019 về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẤP VÒ, TỈNH ĐỒNG THÁP

BẢN ÁN 06/2019/HNGĐ-ST NGÀY 22/02/2019 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON KHI LY HÔN

Ngày 22 tháng 02 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lấp Vò xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 392/2018/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 12 năm 2018 về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 22/2019/QĐST-HNGĐ ngày 14 tháng 02 năm 2019 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Trần Thị Mỹ N, sinh năm 1993; địa chỉ: Số 387/GCA, ấp G, xã A, huyện B, tỉnh B. (Có mặt)

2. Bị đơn: Anh Huỳnh Phước T, sinh năm 1991; địa chỉ: Số 550, ấp B, xã B, huyện L, tỉnh Đ. (Có đơn xin vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Trong đơn khởi kiện đề ngày 06/12/2018, biên bản về việc kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ của Tòa án và tại phiên tòa, nguyên đơn chị N trình bày:

Chị N và anh T có tổ chức đám cưới tại xã An Đức, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Bình Thạnh Trung, huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp vào ngày 04/9/2015. Chị N và anh T sống hạnh phúc đến khoảng giữa năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn chị N và anh T thường xuyên cự cải, bất đồng quan điểm sống. Chị N và anh T thật sự ly thân cuối năm 2016. Quá trình chung sống chị N và anh T có một con chung tên Huỳnh Đông, sinh ngày 23/02/2016, hiện con đang sống với chị N.

Nay chị N yêu cầu xin ly hôn anh T.

Về con chung: Chị N yêu cầu tiếp tục nuôi con Huỳnh Đông ngày 23/02/2016, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

Về chia tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Anh Huỳnh Phước T có tường trình ngày 25/01/2019 trình bày:

Anh T và chị N có tổ chức đám cưới tại xã An Đức, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Bình Thạnh Trung, huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp vào ngày 04/9/2015. Anh T và chị N T sống hạnh phúc đến khoảng giữa năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn anh T và chị N thường xuyên cự cải, bất đồng quan điểm sống. Anh T và chị N và thật sự ly thân cuối năm 2016. Quá trình chung sống chị N và anh T có một con chung tên Huỳnh Đ, sinh ngày 23/02/2016, hiện con đang sống với chị N.

Nay anh T đồng ý ly hôn theo yêu cầu của chị N. Về con chung: Anh T đồng ý giao con Huỳnh Đ ngày 23/02/2016 cho chị N nuôi dưỡng, anh T không cấp dưỡng nuôi con. Về chia tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

Chị N xin ly hôn với anh T đang sinh sống tại ấp Bình Hòa, xã Bình Thạnh Trung, huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lấp Vò, theo quy định tại Điều 28, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Anh T có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh T theo quy định tại khoản 1 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về hôn nhân:

Chị N và anh T cưới nhau có đăng ký kết hôn, được Ủy ban nhân dân xã Bình Thạnh Trung cấp giấy chứng nhận kết hôn nên hôn nhân giữa chị N và anh Thanh là hôn nhân hợp pháp.

Thời gian chung sống có một con chung, lẽ ra chị N và anh T phải biết yêu thương, chia sẻ, thông cảm, tôn trọng nhau, cùng lo cuộc sống gia đình, đảm bảo cho con có được cuộc sống đầy đủ về vật chất cũng như cho con có được một gia đình hạnh phúc, hàng ngày được sống trong tình yêu thương, chăm sóc của cha, của mẹ. Tuy nhiên, chị N và anh T không làm được điều đó, khi xảy ra mâu thuẫn chị N và anh T không hàn gắn được mà mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, dẫn đến sống xa nhau. Đến nay, chị N yêu cầu ly hôn, anh T cũng đồng ý. Xét thấy, tình trạng hôn nhân của chị N và anh T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, sự thuận tình ly hôn giữa chị N và anh T là phù hợp, Hội đồng xét xử chấp nhận.

Tại Điều 55 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Điều 55. Thuận tình ly hôn Trong trường hợp vợ chồng cùng yêu cầu ly hôn, nếu xét thấy hai bên thật sự tự nguyện ly hôn và đã thỏa thuận về việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con trên cơ sở bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án công nhận thuận tình ly hôn; nếu không thỏa thuận được hoặc có thỏa thuận nhưng không bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án giải quyết việc ly hôn.”

[2.2] Về nuôi con chung:

Quá trình thu thập chứng cứ và tại phiên tòa, chị N và anh T thống nhất có một con chung tên Huỳnh Đông, sinh ngày 23/02/2016, hiện con đang sống với chị N. Chị N và anh T thống nhất con chung sẽ do chị N nuôi dưỡng, chị N không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

Xét thấy, từ khi chị N và anh T xa nhau, chị N trực tiếp nuôi con, thời gian qua chị N đảm bảo điều kiện về kinh tế, tinh thần để nuôi dưỡng con, đến nay hai con vẫn phát triển bình thường.

Do đó, xét sự thỏa thuận này của chị N và anh T là phù hợp, Hội đồng xét xử công nhận.

Tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:

“Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn

1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

 3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.”

Anh T không trực tiếp nuôi con được quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con, chị N và các thành viên trong gia đình không được cản trở, theo quy định tại Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[2.3] Về chia tài sản và nợ chung: Chị N và anh T không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] Về án phí: Chị N xin ly hôn, anh T đồng ý nên mỗi bên phải chịu một nữa mức án phí sơ thẩm, theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Tuy nhiên, tại phiên tòa chị N tự nguyện nộp đủ, xét sự tự nguyện này là phù hợp, Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều 26, 28, 39, 147, 227 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 55, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 của Nghị quyết: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Công nhận sự tự nguyện thuận tình ly hôn giữa chị Trần Thị Mỹ N và anh Huỳnh Phước T.

2. Về nuôi con chung:

Chị Trần Thị Mỹ N được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Huỳnh Đ, sinh ngày 23/02/2016, chị Trần Thị Mỹ N không yêu cầu anh Huỳnh Phước T cấp dưỡng nuôi con.

Anh Huỳnh Phước T được quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Chị Trần Thị Mỹ N và các thành viên trong gia đình không được cản trở anh Huỳnh Phước T thực hiện quyền này.

3. Về án phí: Chị Trần Thị Mỹ N tự nguyện nộp đủ 300.000 đồng án phí sơ thẩm hôn nhân và gia đình, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0003430 ngày 06 tháng 12 năm 2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lấp Vò.

4. Án xử công khai có mặt chị N, vắng mặt anh T. Báo cho chị N biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, anh T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc niêm yết bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


17
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 06/2019/HNGĐ-ST ngày 22/02/2019 về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn

Số hiệu:06/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Lấp Vò - Đồng Tháp
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 22/02/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về