Bản án 06/2019/HNGĐ-ST ngày 05/03/2019 về tranh chấp hôn nhân và gia đình - ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG

BẢN ÁN 06/2019/HNGĐ-ST NGÀY 05/03/2019 VỀ TRANH CHẤP HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH - LY HÔN

Trong ngày 05 tháng 3 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 389/2018/TLST- HNGĐ ngày 05/12/2018 về việc “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình - ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 25/01/2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 05/2018/QĐST-HNGĐ ngày 15/02/2019, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: ông Lương Ngọc Đ, sinh năm 1982 (có mặt).

Địa chỉ: 87/3, ấp P, thị trấn P, huyện T, tỉnh A.

2. Bị đơn: bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1982 (vắng mặt).

Địa chỉ: ấp H, thị trấn P, huyện T, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, tờ tự khai ngày 08/01/2019 và tại phiên tòa, nguyên đơn ông Lương Ngọc Đ trình bày: ông Đ với bà H chung sống với nhau vào năm 2001, không tổ chức lễ cưới và cũng không đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Thời gian đầu ông Đ với bà H chung sống hạnh phúc. Tuy nhiên, đến năm 2009 thì ông Đ với bà H phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bà H có mối quan hệ tình cảm với người đàn ông khác. Mặc dù ông Đ có khuyên ngăn nhưng bà H vẫn không thay đổi. Đến tháng 9 năm 2009, nhân lúc ông Đ đi làm thì bà H bỏ nhà đi cho đến nay.

Về quan hệ con chung: ông Đ với bà H có 01 con chung tên Lương Ngọc Đ, sinh ngày 17/3/2002 và hiện đang sống chung với ông Đ. Ông Đ yêu cầu được tiếp tục nuôi cháu Đ; không yêu cầu bà H cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: không có.

Bị đơn bà Nguyễn Thị H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng bà đều vắng mặt nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của bị đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

 [1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: đây là tranh chấp về Hôn nhân và gia đình - ly hôn, theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn bà Nguyễn Thị H đăng ký hộ khẩu tH trú tại ấp H, thị trấn P, huyện T, tỉnh A, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện T theo quy định tại Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

 [2] Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng bị đơnbà Nguyễn Thị H đều vắng mặt tại phiên tòa. Do vậy, căn cứ vào khoản 2 Điều227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

 [3] Xét yêu cầu ly hôn của ông Đ, thấy rằng: ông Đ với bà H tự nguyện chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2001, đến tháng 9 năm 2009 thì phát sinh mâu thuẫn nên ông với bà H không còn sống chung từ thời gian đó cho đến nay. Kể từ khi thụ lý vụ án, Tòa án nhiều lần triệu tập hợp lệ bà H nhưng bà không có mặt theo triệu tập của Tòa án và cũng không gửi đến Tòa án văn bản trình bày ý kiến. Xét thấy, quan hệ hôn nhân giữa ông Đ với bà H đến nay vẫn chưa đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật, vì vậy không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng.

Tại khoản 2 Điều 53 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Trong trường hợp không có đăng ký kết hôn mà có yêu cầu ly hôn thì Tòa án thụ lý và tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng theo quy định tại khoản 1 Điều 14 của Luật này”. Ông Đ yêu cầu ly hôn với bà H, nhưng do ông Đ với bà H không có đăng ký kết hôn nên không được pháp luật công nhận là vợ chồng, mà cần tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa ông Lương Ngọc Đvới bà Nguyễn Thị H.

 [4] Về quan hệ con chung: ông Đ với bà H có 01 chung tên Lương NgọcĐ, sinh ngày 17/3/2002. Ông Đ yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu bà H cấpdưỡng. Xét thấy, việc giao con cho ai nuôi cần xem xét quyền lợi về mọi mặt của con chưa thành niên; cháu Đ đang sống chung với ông Đ và có cuộc sống ổn định. Mặt khác, tại biên bản ghi nguyện vọng của cháu Đ ngày 05/12/2018 thì cháu muốn được sống chung với ông Đ. Do vậy, để tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển bình thường về thể chất và tinh thần của cháu Đ, căn cứ vào khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, nên cần chấp nhận yêu cầu của ông Đ, giao cháu Đ cho ông Đ tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Ông Đ không yêu cầu bà H cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử khôngxem xét giải quyết. Ông Đ cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở bà H trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

 [5] Về tài sản chung: không có.

 [6] Về nợ chung: ông Đ xác định không có nợ chung.

 [7] Do ông Nguyễn Ngọc Đ yêu cầu giải quyết ly hôn nên phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 53, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 2 Điều 227, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 24 và khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban TH vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lương Ngọc Đ.

- Về quan hệ hôn nhân: Tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa ông Lương Ngọc Đ với bà Nguyễn Thị H.

- Về quan hệ con chung: có 01 con chung tên Lương Ngọc Đ, sinh ngày17/3/2002.

+ Giao cháu Lương Ngọc Đ cho ông Lương Ngọc Đ tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục (hiện cháu Đ đang sống chung với ông Đ).

+ Ông Lương Ngọc Đ cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở bà H trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Trên cơ sở lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, của cơ quan có thẩm quyền thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.

- Về nợ chung: ghi nhận ông Đ xác định không có nợ chung, nhưng sau khi bản án này có hiệu lực pháp luật, nếu có nguyên đơn khởi kiện xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của ông Đ và bà H trong thời kỳ hôn nhân thì ông Lương Ngọc Đ và bà Nguyễn Thị H phải liên đới trách nhiệm với tư cách đồng bị đơn trong vụ án dân sự khác.

- Về án phí sơ thẩm: ông Lương Ngọc Đ phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0009127 ngày 05/12/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.


37
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 06/2019/HNGĐ-ST ngày 05/03/2019 về tranh chấp hôn nhân và gia đình - ly hôn

Số hiệu:06/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Thoại Sơn - An Giang
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:05/03/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về