Bản án 06/2017/HNGĐ-ST ngày 30/08/2017 về tranh chấp ly hôn, nuôi con

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN NAM, TỈNH NINH THUẬN

BẢN ÁN 06/2017/HNGĐ-ST NGÀY 30/08/2017 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN, NUÔI CON

Ngày 30 tháng 8 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thuận Nam, tỉnh Ninh Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 35/2017/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 5 năm 2017, về việc:“Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2017/QĐXX-ST ngày 25 tháng 7 năm 2017 giữa các đương sự:

1/ Nguyên đơn: Bà Ma Năng Thị C - sinh năm 1966 (có mặt);

Trú tại: Thôn N, xã H, huyện N, Ninh Thuận.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: ng Lưu Văn Hy - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Ninh Thuận (có mặt).

2/ Bị đơn: Ông Nguyễn Thành V - sinh năm 1971(vắng mặt);

Trú tại: Thôn N, xã H, huyện N, Ninh Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện xin ly hôn ngày 04/5/2017, lời khai trong hồ sơ và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Ma Năng Thị C trình bày: Bà và ông Nguyễn Thành V tự nguyện chung sống từ năm 2005, có đăng ký kết hôn số 05 ngày 22/5/2005 tại Ủy ban nhân dân xã H (viết tắt: UBND xã H) .

Vợ chồng chung sống hạnh phúc được 8 năm thì xảy ra mâu thuẫn và tự sống ly thân nhau đến nay đã hơn 10 năm. Nguyên nhân mâu thuẫn xuất phát từ cách sống và làm ăn không cùng quan điểm. Ông V không chịu đi làm, suốt ngày nhậu nhẹt nên vợ chồng thường xảy ra cãi vã rồi ông V bỏ nhà đi. Bà đã nhiều lần động viên hàn gắn nhưng sự việc cứ lặp đi lặp lại thường xuyên. Bên cạnh đó, ông V coi khinh bà là người dân tộc nên trong thời gian sống ly thân, bà có tìm gặp để hàn gắn thì ông V bảo bà tự về lo cuộc sống và tự làm đơn ly hôn, ông không sống với người dân tộc nữa, ông sẽ tìm người kinh để chung sống. Vì ông V xúc phạm bà quá nặng nên bà không thể níu kéo để tiếp tục chung sống và làm đơn yêu cầu tòa giải quyết ly hôn. Nay bà vẫn không thay đổi ý kiến.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là: Ma Năng Q - sinh ngày 24/5/2005 và Ma Năng Thị C - sinh ngày 09/9/2006. Từ khi các con sinh ra đến nay đều do bà nuôi nấng, chăm sóc chứ ông V không quan tâm đến, vì vậy bà yêu cầu được nuôi các con, không yêu cầu ông V cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung, bà không yêu cầu giải quyết.

Ý kiến của bị đơn: Ông Nguyễn Thành V đã được thông báo về việc thụ lý vụ án, được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không có văn bản nêu ý kiến, không đến Tòa án do đó không có lời khai của ông V.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

 [1]. Thủ tục tố tụng:

- Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Bà Ma Năng Thị C khởi kiện yêu cầu giải quyết ly hôn ông Nguyễn Thành V; yêu cầu giải quyết được nuôi con chung. Căn cứ khoản 1 điều 28, điểm a khoản 1 điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 (viết tắt: BLTTDS), xác định yêu cầu khởi kiện của bà C thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thuận Nam. Căn cứ điều 195 BLTTDS, Tòa án tiến hành thụ lý vụ án và xác định quan hệ tranh chấp: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.

- Sự vắng mặt của bị đơn: ng Nguyễn Thành V đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Căn cứ điểm b khoản 2 điều 227 BLTTDS tiến hành xét xử vắng mặt ông V.

[2]. Nội dung vụ án: 

- Về quan hệ hôn nhân: Bà C thừa nhận đã tự nguyện chung sống với ông V. Căn cứ giấy chứng nhận kết hôn số: 05 ngày 22/5/2005 của UBND xã H, Hội đồng xét xử khẳng định hôn nhân giữa bà C và ông V là hôn nhân hợp pháp.

- Tình trạng hôn nhân: Do ông V không đến Tòa và không có ý kiến phản đối lời khai của bà C là tự tước bỏ quyền của mình được quy định tại khoản 3 điều 72 BLTTDS; vì vậy căn cứ khoản 2 điều 92 BLTTDS khẳng định lời khai của bà C và Đơn xác nhận tình trạng hôn nhân ngày 15/5/2017, đủ cơ sở chứng minh: Bà C và ông V chung sống chỉ hạnh phúc thời gian đầu, về sau do bất đồng quan điểm trong cách sống, cách làm ăn dẫn đến cãi vã, mâu thuẫn với nhau. Bên cạnh đó, ông V có tư tưởng phân biệt và tỏ ra xem thường tình cảm của bà C rồi nhiều lần bỏ nhà đi, bà C tự tìm để hàn gắn nhưng cũng không duy trì được hạnh phúc. Điều này cho thấy, cuộc sống hôn nhân giữa bà C và ông V đã đến mức trầm tr ng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được; bà C yêu cầu ly hôn là có căn cứ chấp nhận.

- Về con chung: Vợ chồng bà C và ông V có 02 người con chung là Ma Năng Q - sinh ngày 24/5/2005 và Ma Năng Thị C - sinh ngày 09/9/2006, hiện đang do bà C trực tiếp nuôi dưỡng. Bà C yêu cầu được nuôi cả 02 con chung là phù hợp nguyện vọng của các con thể hiện tại các biên bản làm việc ngày 24/7/2017, phù hợp quy định tại khoản 2 điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình nên chấp nhận.

Ông V không trực tiếp nuôi con, căn cứ điều 82 Luật hôn nhân và gia đình, ông V có quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung mà không ai được cản trở.

- Về cấp dưỡng nuôi con: Bà C không yêu cầu ông V cấp dưỡng nuôi con là tự nguyện nên không xem xét.

- Về tài sản chung và nợ chung: các đương sự không yêu cầu nên không có cơ sở để xem xét.

- Án phí: Căn cứ khoản 1 điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, điểm đ khoản 1 điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội 14: Bà C thuộc diện đồng bào dân tộc thiểu số ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn (xã H) nên được miễn án phí dân sự sơ thẩm. Do đó, hoàn trả lại cho bà C số tiền đã nộp tạm ứng án phí tại biên lai thu tiền số: 0010952 ngày 10/5/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thuận Nam.

Tại phiên tòa, trợ giúp viên pháp lý Nhà nước tỉnh Ninh Thuận là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn đề nghị áp dụng điều 56 và điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu ly hôn và nuôi con của nguyên đơn. Nguyên đơn là người dân tộc thiểu số ở xã khó khăn, được trợ giúp pháp luật miễn phí nên đề nghị xem xét miễn án phí theo Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội 14.

- Ý kiến của kiểm sát viên: Đề nghị chấp nhận yêu cầu của bà C được ly hôn ông V và được quyền nuôi 02 con chung. Đề nghị miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội 14.

Xét thấy đề nghị của người bảo vệ quyền và lợi ích cho bà C và đề nghị của kiểm sát viên phù hợp quy định pháp luật nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các điều 51, 56, 57, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1 điều 28, điểm b khoản 2 điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội 14.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Ma Năng Thị C và ông Nguyễn Thành V.

2. Về nuôi con chung:

2.1. Giao con chung Ma Năng Q - sinh ngày 24/5/2005 và Ma Năng Thị C - sinh ngày 09/9/2006 cho bà Ma Năng Thị C trực tiếp nuôi dưỡng.

2.2. Bà C tự nguyện không yêu cầu ông V cấp dưỡng nuôi con.

Ông V có quyền thăm nom, chăm sóc giáo dục con chung. Bà C c ng các thành viên trong gia đình không được cản trở việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

3. Về án phí: Bà C được miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả lại cho bà C số tiền 300.000đ đã nộp tạm ứng án phí tại biên lai thu tiền số 0010952 ngày 10 tháng 5 năm 2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thuận Nam. Đương sự có mặt có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt hợp lệ.


49
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 06/2017/HNGĐ-ST ngày 30/08/2017 về tranh chấp ly hôn, nuôi con

Số hiệu:06/2017/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Thuận Nam - Ninh Thuận
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:30/08/2017
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về