Bản án 05/2021/HNGĐ-ST ngày 20/01/2021 về ly hôn và tranh chấp nuôi con

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH TÂN, TỈNH VĨNH LONG

BẢN ÁN 05/2021/HNGĐ-ST NGÀY 20/01/2021 VỀ LY HÔN VÀ TRANH CHẤP NUÔI CON 

Ngày 20 tháng 01 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 215/2020/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 12 năm 2020 về việc“Ly hôn và tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 01 năm 2021 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Lê Thị S, sinh năm 1979 (có mặt) Nơi ĐKTT: Tổ 02, ấp TV, xã TL, huyện BT, tỉnh V. Tạm trú: Số 533, ấp TQ, thị trấn CT, huyện CT, tỉnh S.

2. Bị đơn: Anh Trần Thế T, sinh năm 1988 (vắng mặt) Nơi cư trú: Tổ 2, ấp TV, xã TL, huyện BT, tỉnh V.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, bản khai ngày 01/12/2020 nguyên đơn Lê Thị S trình bày:

Vào năm 2018 chị và anh Trần Thế T sau một thời gian quen biết, tìm hiểu thì về sống chung như vợ chồng mà không có tổ chức đám cưới, không có nữ trang cưới, nhưng có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã TL, huyện BT, tỉnh V và được cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 14/6/2018. Sau khi kết hôn chị về sống với anh T tại ấp TV, xã TL, huyện BT, tỉnh V. Chị và anh T sống hạnh phúc được khoảng 02 năm thì phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng thường xuyên bất đồng quan điểm sống và đời sống kinh tế của gia đình gặp nhiều khó khăn, từ đó chị và anh T hay bất hòa, cự cãi nhau ngày càng trầm trọng nên cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc, chị và anh T đã nhiều lần hàn gắn tình cảm nhưng không thành. Hiện nay mỗi người đều có cuộc sống riêng, không ai quan tâm đến ai.

Trong quá trình chung sống chị và anh T có một con chung là Trần Mỹ Kim A, sinh ngày 16/5/2019, hiện cháu Kim A đang sống với chị. Trong thời gian chung sống, chị và anh T không tạo lập được tài sản gì, không thiếu nợ ai, cũng không ai thiếu nợ vợ chồng chị.

Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được và không thể kéo dài, do đó chị yêu cầu Tòa án giải quyết những vấn đề sau:

Về hôn nhân: Cho chị được ly hôn với anh Trần Thế T.

Về con chung: Chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Trần Mỹ Kim A (sinh ngày 16/5/2019), chị yêu cầu anh T cấp dưỡng cho cháu Kim A mỗi tháng là 1.500.000 đồng.

Về quan hệ tài sản: Chị không tranh chấp với anh T nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ngoài ra, chị không còn yêu cầu nào khác.

Tại biên bản lấy lời khai đương sự ngày 25/12/2020 (bút lục 24-25) anh Trần Thế T trình bày về quan hệ hôn nhân, về con chung, về quan hệ tài sản và mâu thuẫn vợ chồng là thống nhất với nội dung đơn khởi kiện ngày 01/12/2020 của chị Lê Thị S. Anh T xác định không còn tình cảm gì với chị S nên anh đồng ý ly hôn theo yêu cầu của chị S; anh đồng ý giao cháu Trần Mỹ Kim A cho chị S tiếp tục nuôi dưỡng, nhưng anh không đồng ý cấp dưỡng nuôi con; Về tài sản thì anh và chị S tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do anh phải đi làm thuê không sắp xếp thời gian đến Tòa để giải quyết việc ly hôn giữa anh với chị Lê Thị S được nên đề nghị Tòa án nhân dân huyện Bình Tân giải quyết vắng mặt anh cho đến khi vụ án được giải quyết bằng một bản án hay quyết định có hiệu lực pháp luật.

Tại phiên tòa:

Chị Lê Thị S trình bày: Chị vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện xin ly hôn với anh Trần Thế T, hiện nay chị đã bỏ về nhà cha mẹ ruột ở số 533, ấp TQ, thị trấn CT, huyện CT, tỉnh S để sinh sống; về con chung chị yêu cầu giải quyết cho chị được được tiếp tục nuôi dưỡng, chị xin rút lại yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con vì hiện nay chị có đủ khả năng để nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung chị không tranh chấp với anh T nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa:

Việc tuân theo pháp luật tố tụng: Từ khi thụ lý và trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã thực hiện đúng quy định của pháp luật về tố tụng. Đối với người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án thì nguyên đơn và bị đơn đều chấp hành đúng theo quy định (bị đơn vắng mặt nhưng có ý kiến yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt).

Quan điểm về việc giải quyết nội dung vụ án: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị S được ly hôn với anh Trần Thế T. Về con chung tên Trần Mỹ Kim A (sinh ngày 16/5/2019) tiếp tục giao cho chị S nuôi dưỡng, anh T chưa phải cấp dưỡng nuôi con; anh T được quyền tới lui thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Về tài sản chung và nợ chung: không tranh chấp nên không đặt ra xem xét giải quyết. Về án phí: Buộc chị Lê Thị S nộp 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân sơ thẩm, chị Sương được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp nên không phải nộp thêm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xem xét tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Xét nguyên đơn Lê Thị S yêu cầu Tòa án giải quyết về việc tranh chấp ly hôn và nuôi con với bị đơn Trần Thế T có nơi cư trú tại tổ 2, ấp TV, xã TL, huyện BT, tỉnh V là quan hệ pháp luật thuộc thẩm quyền thụ lý, giải quyết của Tòa án nhân dân huyện BT, tỉnh V theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về thủ tục tố tụng: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho các đương sự, tiến hành lập biên bản công khai chứng cứ và hòa giải nhưng bị đơn vắng mặt nên không tiến hành hòa giải được do đó Tòa án tiến hành đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung. Tại phiên tòa thì bị đơn Trần Thế T tuy vắng mặt nhưng có ý kiến đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3] Về nội dung:

[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Xét chị Lê Thị S và anh Trần Thế T kết hôn trên tinh thần tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã TL, huyện BT, tỉnh V theo quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình chung sống chị S và anh T phát sinh nhiều mâu thuẫn nên chị S khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị ly hôn với anh T. Xét thấy mâu thuẫn giữa chị S và anh T là trầm trọng bởi theo lời khai của chị S và anh T có sự thống nhất là trong cuộc sống hôn nhân vợ chồng thường xuyên bất đồng quan điểm sống và mâu thuẫn về kinh tế gia đình nên vợ chồng sống không có hạnh phúc, xét thấy hiện nay chị S và anh T đã sống ly thân nhau không thể hàn gắn tình cảm, mỗi người đều có cuộc sống riêng không còn quan tâm đến nhau, đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận cho chị S được ly hôn anh T theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

[3.2] Về con chung: Chị Lê Thị S và anh Trần Thế T có 01 con chung là Trần Mỹ Kim A (sinh ngày 16/5/2019), chị S yêu cầu giải quyết cho chị được tiếp tục nuôi con, anh T cũng có ý kiến thống nhất để chị S tiếp tục nuôi nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị S, giao cháu Trần Mỹ Kim A cho chị Lê Thị S tiếp tục nuôi dưỡng. Anh Trần Thế T được quyền trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục con chung theo quy định pháp luật.

Đối với việc cấp dưỡng nuôi con: Theo đơn khởi kiện ngày 01/12/2020 chị Lê Thị S yêu cầu anh Trần Thế T cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.500.000 đồng, nhưng tại phiên tòa chị S xin rút yêu cầu này, xét đây là sự tự nguyên của chị S, không vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái đạo đức xã hội nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Do đó, Hội đồng xét xử ghi nhận anh Trần Thế T chưa phải cấp dưỡng nuôi cháu Trần Mỹ Kim A.

[3.3] Về quan hệ tài sản: Đương sự không tranh chấp, không yêu cầu tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.

[4] Về án phí: Chị Lê Thị S phải nộp án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[5] Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 228; Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 9, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị S.

1.1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Lê Thị S ly hôn với anh Trần Thế T.

1.2. Về con chung: Giao cháu Trần Mỹ Kim A (sinh ngày 16/5/2019) cho chị Lê Thị S nuôi dưỡng kể từ ngày Bản án của Toà án có hiệu lực đến khi cháu Kim A đủ 18 tuổi hoặc đến khi có quyết định của Tòa án về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con. Anh Trần Thế T chưa phải cấp dưỡng nuôi con.

Anh Trần Thế T có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở, nhưng không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Ngoài ra, anh T còn thực hiện các quyền và nghĩa vụ khác theo quy định tại Điều 81, 82 và 83 của Luật hôn nhân và gia đình.

1.3. Về quan hệ tài sản: Đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc chị Lê Thị S nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, chị S được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai thu số 0011745 ngày 01/12/2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải chịu thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

3. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị đơn không có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.


13
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 05/2021/HNGĐ-ST ngày 20/01/2021 về ly hôn và tranh chấp nuôi con

Số hiệu:05/2021/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Bình Tân - Vĩnh Long
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:20/01/2021
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về