Bản án 05/2020/HNGĐ-ST ngày 21/05/2020 về tranh chấp hôn nhân và gia đình

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC THỌ, TỈNH HÀ TĨNH

BẢN ÁN 05/2020/HNGĐ-ST NGÀY 21/05/2020 VỀ TRANH CHẤP HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

Ngày 21 tháng 5 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 30/2020/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 03 năm 2020 tranh chấp về “Hôn nhân và gia đình”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 23/4/2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 02/2020/QĐST-HNGĐ ngày 08/5/2020 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Anh Nguyễn Bá H; sinh năm 1986; địa chỉ: Xóm ĐT, xã ĐĐ, huyện ĐT, tỉnh Hà Tĩnh; có mặt.

2. Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Hồng M; sinh năm 1989; địa chỉ: Xóm ĐT, xã ĐĐ, huyện ĐT, tỉnh Hà Tĩnh; vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 2.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 02 tháng 03 năm 2020, bản tự khai tại hồ sơ và tại phiên tòa anh Nguyễn Bá Hòa trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Bá H kết hôn với chị Nguyễn Thị Hồng M trên cơ sở tình yêu tự nguyện, không bị ai lừa dối, ép buộc và đăng ký kết hôn ngày 02/7/2010 tại UBND xã ĐĐ, huyện ĐT, tỉnh Hà Tĩnh. Sau khi kết hôn vợ chồng về chung sống tại xóm ĐT, xã ĐĐ. Tình cảm vợ chồng hòa thuận hạnh phúc đến ngày 09/02/2017 thì nảy sinh mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp nhau nên thường xuyên xảy ra cãi vã, vợ chồng đã sống ly thân nhau từ ngày 09/02/2017 đến nay. Anh Nguyễn Bá H xác định mâu thuẫn giữa vợ chồng đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên anh yêu cầu Tòa án giải quyết cho vợ chồng ly hôn.

- Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên là Nguyễn Bá Mạnh Q, sinh ngày 19/5/2011, từ khi vợ chồng ly thân đến nay con sống chung với anh Hòa nên anh Hòa có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con đến khi đủ 18 tuổi và không yêu cầu chị Minh cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản và nợ chung: Anh H, chị M không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đi với chị Nguyễn Thị Hồng M, theo tài liệu có tại hồ sơ vụ án thể hiện:

Sau khi Tòa án nhân dân huyện Đức Thọ thụ lý vụ án đã phối hợp với chính quyền địa phương xã Đức Đồng trực tiếp đến nhà tống đạt thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và các văn bản tố tụng khác cho chị Nguyễn Thị Hồng M nhưng chị M không ở nhà nên Tòa án giao cho bố đẻ chị là ông Nguyễn Văn L nhận thay và có trách nhiệm thông báo và giao lại cho chị M, ông L đã đồng ý nhận và có trách nhiệm thông báo, giao lại cho chị M. Tuy nhiên, quá trình giải quyết vụ án chị M không đến Tòa án tham gia tố tụng. Kết quả làm việc với Công an xã Đức Đồng được biết chị Nguyễn Thị Hồng M có hộ khẩu tại xóm ĐT, xã ĐĐ, huyện ĐT nhưng hiện nay chị M không có mặt tại nơi cư trú, thỉnh thoảng chị M có về địa phương. Tòa án đã tiến hành niêm yết công khai văn bản tố tụng tại xóm ĐT và Ủy ban nhân dân xã ĐĐ, huyện ĐT.

Tại phiên tòa anh Nguyễn Bá H vẫn giữ nguyên yêu cầu, chị Nguyễn Thị Hồng M vắng mặt lần thứ 2 không có lý do.

Đi diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:

- Về tố tụng: Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án thấy rằng Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký, nguyên đơn cơ bản đã thực hiện đúng pháp luật. Tuy nhiên, quá trình giải quyết vụ án chị Nguyễn Thị Hồng M đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng chị M vắng mặt không có lý do là không chấp hành nghiêm túc quy định pháp luật.

- Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ Khoản 1 Điều 51, Khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, xử cho anh Nguyễn Bá H ly hôn chị Nguyễn Thị Hồng M.

- Về con chung và cấp dưỡng: Căn cứ vào Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình, giao con chung Nguyễn Bá Mạnh Q, sinh ngày 19/5/2011 cho anh Nguyễn Bá H trực tiếp nuôi dưỡng đến khi con đủ 18 tuổi. Anh Nguyễn Bá H không yêu cầu chị Nguyễn Thị Hồng M cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản và nợ chung: Anh H, chị M không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

- Về án phí: Căn cứ vào Khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm b Khoản 1 Điều 3, Khoản 1 Điều 6, Điểm a Khoản 1 Điều 24, Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, buộc anh Nguyễn Bá Hòa phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở xem xét đầy đủ các tài liệu có tại hồ sơ cũng như kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về thủ tục tố tụng: Đây là quan hệ tranh chấp hôn nhân và gia đình quy định tại Khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 giữa nguyên đơn anh Nguyễn Bá H và bị đơn chị Nguyễn Thị Hồng M; cùng địa chỉ: Xóm ĐT, xã ĐĐ, huyện ĐT, tỉnh Hà Tĩnh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh.

Sau khi thụ lý vụ án Toà án nhân dân huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án, hai lần thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và các văn bản tố tụng khác theo quy định của pháp luật, nhưng chị Nguyễn Thị Hồng M không có mặt tại Tòa án gây khó khăn cho việc giải quyết vụ án. Ngày 08 tháng 5 năm 2020 Tòa án mở phiên tòa xét xử lần thứ nhất, bị đơn chị Nguyễn Thị Hồng M vắng mặt nên Hội đồng xét xử phải hoãn phiên tòa. Tại phiên tòa hôm nay chị Nguyễn Thị Hồng M vắng mặt lần thứ 2 không có lý do nên căn cứ Điểm b Khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử quyết định xử vắng mặt chị Nguyễn Thị Hồng M.

[2]. Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Bá H và chị Nguyễn Thị Hồng M kết hôn trên cơ sở tình yêu tự nguyện, không bị ai lừa dối hay ép buộc và có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã ĐĐ, huyện ĐT vào ngày 02/7/2010. Điều đó phù hợp với Giấy chứng nhận kết hôn của anh H chị M có tại hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử xác định quan hệ hôn nhân của anh chị là hợp pháp.

Tình trạng hôn nhân vợ chồng hòa thuận hạnh phúc đến ngày 09/02/2017 thì nảy sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống nên giữa vợ chồng thường xuyên nảy sinh nhiều mâu thuẫn, vợ chồng đã sống ly thân nhau từ ngày 09/02/2017 thể hiện mâu thuẫn giữa vợ chồng đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên xử cho anh Nguyễn Bá H được ly hôn chị Nguyễn Thị Hồng M theo quy định tại Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[3]. Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên là Nguyễn Bá Mạnh Q, sinh ngày 19/5/2011. Xét nguyện vọng muốn sống cùng bố của cháu Q là hoàn toàn tự nguyện. Đồng thời từ thời điểm vợ chồng sống ly thân và hiện tại cháu Q ở cùng với anh Hòa tại xóm ĐT, xã ĐĐ, huyện ĐT, tỉnh Hà Tĩnh. Anh H là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Q đảm bảo cuộc sống cháu phát triển bình thường về tâm lý, sức khỏe, được học hành đầy đủ, có nơi ăn và chốn ở ổn định. Để đảm bảo cuộc sống và tâm lý ổn định cho cháu Q, Hội đồng xét xử thấy nên giao cháu Q cho anh Nguyễn Bá H tiếp tục nuôi dưỡng đến tuổi trưởng là có cơ sở theo quy định tại Điều 81, Khoản 1,3 Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình.

[4]. Về tài sản và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên miễn xét.

[5]. Về án phí và quyền kháng cáo: Anh H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm; anh H chị M có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng Khoản 1 Điều 28, Điểm b Khoản 2 Điều 227, Khoản 4 Điều 147, Điều 179 Bộ luật tố tụng Dân sự; Khoản 1 Điều 51, Khoản 1 Điều 56, Điều 81, Khoản 1, 3 Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điểm b Khoản 1 Điều 3, Khoản 1 Điều 6, Điểm a Khoản 1 Điều 24, Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định án phí, lệ phí Tòa án, xử:

1. Chấp nhận cho anh Nguyễn Bá H ly hôn chị Nguyễn Thị Hồng M.

2. Giao con chung Nguyễn Bá Mạnh Q, sinh ngày 19/5/2011 cho anh Nguyễn Bá H trực tiếp nuôi dưỡng đến khi con đủ 18 tuổi.

Chị Nguyễn Thị Hồng M có quyền và nghĩa vụ thăm nom con không ai được cản trở.

3. Anh Nguyễn Bá H phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm. Anh H đã nộp đủ theo biên lai thu tiền số 0006013 ngày 03/03/2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh.

4. Anh Nguyễn Bá H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 21/5/2020. Chị Nguyễn Thị Hồng M có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.


13
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 05/2020/HNGĐ-ST ngày 21/05/2020 về tranh chấp hôn nhân và gia đình

Số hiệu:05/2020/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Đức Thọ - Hà Tĩnh
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 21/05/2020
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về