Bản án 05/2020/HNGĐ-ST ngày 20/05/2020 về tranh chấp ly hôn nuôi con chung

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ A, TỈNH GIA LAI

BẢN ÁN 05/2020/HNGĐ-ST NGÀY 20/05/2020 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN NUÔI CON CHUNG

Ngày 20/5/2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã A, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 31/2020/TLST-HNGĐ ngày 26/02/2020 về việc “Tranh chấp về ly hôn, nuôi con chung”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 04/5/2020, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Châu Thị H, sinh năm 1989; địa chỉ: Thôn AN, xã C, thị xã A, tỉnh Gia Lai; nơi cư trú hiện nay: Xóm M, thôn TS, xã T, huyện TS, tỉnh Bình Định. Có mặt.

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn B, sinh năm 1984; địa chỉ: Thôn AN, xã C, thị xã A, tỉnh Gia Lai. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn chị Châu Thị H trình bày: Chị H và anh Nguyễn Văn B tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại UBND xã C, thị xã A, tỉnh Gia Lai vào ngày 09/10/2009. Trong quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn do không hợp tính nhau, khác nhau về quan điểm sống, anh B hay ghen tuông, say xỉn đánh đập vợ con. Hiện nay, vợ chồng đã sống ly thân, cuộc sống không còn hạnh phúc, không thể kéo dài cuộc sống hôn nhân. Do vậy, chị H yêu cầu Tòa án giải quyết xin được ly hôn với anh Nguyễn Văn B.

- Về con chung: Chị H và anh B có hai con chung là Nguyễn Trần Bảo N, sinh ngày 20/7/2010 và Nguyễn Trần Bảo Y, sinh ngày 12/02/2013. Chị H có nguyện vọng được nuôi dưỡng cháu Nguyễn Trần Bảo Y và giao cho anh B nuôi dưỡng cháu Nguyễn Trần Bảo N, không ai phải cấp dưỡng nuôi con. - Về tài sản và nợ chung: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn anh Nguyễn Văn B trình bày: Về quan hệ hôn nhân: Anh B và chị Châu Thị H có đăng ký kết hôn như chị H đã trình bày trong đơn khởi kiện. Quá trình chung sống, vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn, anh mong muốn vợ chồng đoàn tụ, nhưng chị H cương quyết ly hôn thì anh cũng đồng ý.

- Về con chung: Anh B yêu cầu được nuôi hai con chung là Nguyễn Trần Bảo N và Nguyễn Trần Bảo Y, không yêu cầu chị H phải cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản và nợ chung: Anh B không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn chị Châu Thị H yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Văn B, sinh năm 1984; địa chỉ: Thôn AN, xã C, thị xã A, tỉnh Gia Lai. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, thì đây là vụ án tranh chấp về ly hôn, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã A, tỉnh Gia Lai.

[2] Về hôn nhân: Chị Châu Thị H và anh Nguyễn Văn B có đủ điều kiện kết hôn, đã đăng ký kết hôn theo đúng quy định của pháp luật nên là hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình chung sống chị H và anh B đã phát sinh mâu thuẫn dẫn đến chị H có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh B. Thôn AN và UBND xã C đã có xác nhận về tình trạng mâu thuẫn của chị H và anh B. Tòa án đã tổ chức nhiều phiên hòa giải, nhưng anh B luôn vắng mặt, thể hiện thái độ bỏ mặc, không quan tâm đến việc hàn gắn duy trì cuộc sống vợ chồng. Tháng 07/2019, chị H đã khởi kiện xin ly hôn với anh B, sau đó rút đơn khởi kiện nhằm tạo điều kiện để vợ chồng hàn gắn và đoàn tụ nhưng đến nay không đạt được kết quả. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã phân tích, động viên để vợ chồng đoàn tụ, nhưng chị H vẫn cương quyết yêu cầu ly hôn và anh B cũng đồng ý. Hội đồng xét xử xét thấy, tình trạng hôn nhân giữa chị H và anh B là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Châu Thị H đối với anh Nguyễn Văn B.

[3] Về nuôi con chung: Chị H và anh B có hai con chung là Nguyễn Trần Bảo N, sinh ngày 20/7/2010 và Nguyễn Trần Bảo Y, sinh ngày 12/02/2013. Chị H có yêu cầu được nuôi cháu Nguyễn Trần Bảo Y, giao cháu Nguyễn Trần Bảo N cho anh B nuôi dưỡng; anh B có nguyện vọng được nuôi cả hai con. Hội đồng xét xử xét thấy, vì lợi ích của các con, cháu Y còn nhỏ cần được sự chăm sóc nuôi dưỡng của người mẹ, cháu Y cũng có nguyện vọng được chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Vì vậy, cần giao cho chị Châu Thị H trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Trần Bảo Y, sinh ngày 12/02/2013, giao cho anh Nguyễn Văn B trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Trần Bảo N, sinh ngày 20/7/2010 là phù hợp. Chị H và anh B không yêu cầu ai phải cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[4] Về tài sản và nợ chung: Chị H và anh B không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Nguyên đơn chị Châu Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, bị đơn anh Nguyễn Văn B không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; các Điều 147, 266 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 56, các Điều 57, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

2. Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Châu Thị H.

- Về hôn nhân: Chị Châu Thị H được ly hôn với anh Nguyễn Văn B.

- Về nuôi con chung: Giao cho chị Châu Thị H được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Nguyễn Trần Bảo Y, sinh ngày 12/02/2013; giao cho anh Nguyễn Văn B được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Nguyễn Trần Bảo N, sinh ngày 20/7/2010, khi cháu N và cháu Y chưa thành niên hoặc đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình. Chị H và anh B không yêu cầu ai phải cấp dưỡng nuôi con.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Nếu người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Trên cơ sở lợi ích của con, các đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.

- Về án phí: Chị Châu Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn là 300.000đồng, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đồng, theo biên lai thu tiền số 0004276 ngày 26/02/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã A, tỉnh Gia Lai. Chị H đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm. Anh Nguyễn Văn B không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

3. Trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án (20/5/2020), các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.


12
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 05/2020/HNGĐ-ST ngày 20/05/2020 về tranh chấp ly hôn nuôi con chung

Số hiệu:05/2020/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thị Xã An Khê - Gia Lai
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:20/05/2020
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về