Bản án 05/2020/HNGĐ-ST ngày 06/02/2020 về tranh chấp xin ly hôn

A ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO, TỈNH TIỀN GIANG

BẢN ÁN 05/2020/HNGĐ-ST NGÀY 06/02/2020 VỀ TRANH CHẤP XIN LY HÔN

Ngày 06 tháng 02 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 814/2019/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 12 năm 2019 về việc “Xin ly hôn”.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 01 năm 2020 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn : Đoàn Thị Diễm K, sinh năm 1990 (có mặt)

Địa chỉ: 46D, ấp M, xã M, TP.M, Tiền Giang.

* Bị đơn : Nguyễn Văn Q, sinh năm 1987 (vắng mặt)

Địa chỉ: 46D, ấp M, xã M, TP.M, Tiền Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Nguyên đơn chị K trình bày: chị và anh Q cưới nhau vào năm 2009, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, thành phố M vào năm 2009. Trong quá trình chung sống có 01 con chung tên Nguyễn Đoàn Phương T, sinh năm 2011, hiện cháu T đang sống chung với chị K.

Đến năm 2014 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh Q ăn chơi, không quan tâm chăm sóc vợ con, bất đồng quan điểm, tính tình không phù hợp, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, đến tháng 10/2019 chị và cháu T về nhà mẹ chị ở (ấp M, xã M) cho đến nay.

Nay do mâu thuẫn trầm trọng, không còn khả năng hàn gắn, nên chị yêu cầu được ly hôn với anh Q.

Về con chung: chị K yêu cầu được nuôi cháu T, yêu cầu anh Q cấp dưỡng nuôi con 1.000.000 đồng/tháng, đến khi con đủ 18 tuổi.

Về tài sản chung: tự thỏa thuận, không yêu cầu. Về nợ chung: không có, không yêu cầu.

* Bị đơn anh Q đã được tống đạt các văn bản tố tụng nhưng không có ý kiến, yêu cầu gì.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho phát biểu: Từ khi thụ lý vụ kiện và tại phiên tòa sơ thẩm Thẩm phán, Hội đồng xét xử đều đã thực hiện đúng quy định pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng qui định Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn không chấp hành pháp luật, vắng mặt kể từ khi Tòa án thụ lý vụ án.

Về việc giải quyết vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị K. Đề nghị giao con cho chị K được tiếp tục nuôi dưỡng, buộc anh Q có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con 1.000.000 đồng/tháng. Về tài sản chung, nợ chung: không đặt ra xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: bị đơn anh Q đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Do đó Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xử vắng mặt anh Q.

[2] Về nội dung: chị K yêu cầu được ly hôn với anh Q, yêu cầu được nuôi con.

Xét thấy, chị K và anh Q xác lập quan hệ hôn nhân vào năm 2009, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, thành phố M vào năm 2009.

Theo chị K trình bày, vào năm 2014 thì chị và anh Q phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh Q ăn chơi, không quan tâm chăm sóc vợ con, bất đồng quan điểm, tính tình không phù hợp, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Đến tháng 10/2019 chị K về nhà mẹ ruột chị ở cho đến nay.

Anh Q đã được Tòa án triệu tập để hòa giải nhưng anh không đến, qua đó cũng thể hiện ý chí của anh Q là không muốn hàn gắn.

Vì vậy, mâu thuẫn giữa chị K và anh Q đã trầm trọng, không còn khả năng hàn gắn. Nay chị K yêu cầu được ly hôn là có căn cứ phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về con chung: chị K và anh Q có 01 con chung là cháu T. Xét thấy, hiện nay cháu T đang sống với chị K và nguyện vọng của cháu muốn sống với chị K nên cần giao cháu cho chị K nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con: chị K yêu cầu anh Q cấp dưỡng 1.000.000 đồng/tháng. Xét thấy yêu cầu này của chị K là có căn cứ phù hợp với quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về tài sản chung: tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về nợ chung: chị K khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[3] Về án phí: chị K, anh Q phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

Căn cứ Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình.

Căn cứ điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

1/ Về hôn nhân: cho chị Đoàn Thị Diễm K được ly hôn với anh Nguyễn Văn Q.

2/ Về con chung: giao cháu Nguyễn Đoàn Phương T, sinh ngày 24/02/2011 cho chị K nuôi dưỡng.

Buộc anh Q cấp dưỡng nuôi con 1.000.000 (một triệu) đồng/tháng, kể từ khi án có hiệu lực pháp luật đến khi con đủ 18 tuổi.

Anh Q có quyền tới lui, chăm sóc con chung không ai được quyền ngăn cản.

3/ Về tài sản chung: tự thỏa thuận, không yêu cầu.

4/ Về nợ chung: không có, không yêu cầu.

5/ Về án phí: chị K phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Chị K đã nộp 300.000 đồng tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0000680 ngày 04/12/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Mỹ Tho nên xem như đã nộp xong.

Anh Q phải chịu 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con.

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt thì thời hạn kháng cáo được tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Tng hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy đị nh tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.


16
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 05/2020/HNGĐ-ST ngày 06/02/2020 về tranh chấp xin ly hôn

Số hiệu:05/2020/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Mỹ Tho - Tiền Giang
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 06/02/2020
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về