Bản án 05/2019/KDTM-ST ngày 24/07/2019 về tranh chấp hợp đồng mua bán

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH – TỈNH AN GIANG

BẢN ÁN 05/2019/KDTM-ST NGÀY 24/07/2019 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG MUA BÁN

Ngày 24 tháng 7 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 02/2019/TLST-KDTM ngày 17 tháng 1 năm 2019 về tranh chấp “Hợp đồng mua bán” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 107/2019/QĐXXST-KDTM ngày 13 tháng 6 năm 2019 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Công ty Cổ phần tập đoàn L

Địa chỉ: 23 Hà Hoàng H, phường M, Tp L, tỉnh An Giang.

Người đại diện: ông Phạm Thanh Thọ_Trưởng Ban Hành chính – Pháp lý theo giấy ủy quyền số 64/UQ.TĐLT ngày 20/05/2018 của ông Huỳnh Văn T- Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty Cổ phần Tập đoàn L

Ông Huỳnh Văn T ủy quyền cho ông Huỳnh Đăng S  theo văn bản ủy quyền ngàyn 21/11/2018 ( Có mặt)

Bị đơn: Công ty Trách nhiệm hữu hạn sản xuất thương mại dịch vụ A

Trụ sở: Số 478, Quốc Lộ 91, ấp H, thị trấn A, huyện C, tỉnh An Giang.

Đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Thị Huệ T – Tổng giám đốc (theo giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, đăng ký thay đổi lần thứ 18 ngày 04/8/2016) (vắng mặt)

Người có quyền và nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Thái S, sinh năm: 1960 (vắng mặt)

Địa chỉ: Số 25/33, Trần Hưng Đ, khóm T, Phường M, Thành phố. L, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện, bản tự khai cùng ngày 21/11/2018 trong quá trình xét xử và lời khai trước phiên tòa hôm nay đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có ông Huỳnh Đăng S trình bày:

Ngày 01/01/2016 chi nhánh của công ty cổ phần tập đoàn L – chi nhánh Xí nghiệp Bình Đức và Công ty trách nhiệm hữu hạn sản xuất – Thương mại – Dịch vụ T (gọi tắt là công ty T) có ký kết hợp đồng nguyên tắc số 02AG/2016.HĐNT- BB để mua bán các loại thùng Carton và bao PP theo quy cách và yêu cầu kỷ thuật được hai bên xác nhận theo từng đơn đặt hàng. Trong quá trình thực hiện hợp đồng Công ty cổ phần tập đoàn L đã thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ quy định trong hợp đồng. Tuy nhiên đến tháng 6 năm 2016 Công ty T đã không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thanh toán tiền hàng theo thỏa thuận. Hai bên có tiến hành đối chiếu công nợ thì Công  ty  T  còn  nợ Tập  đoàn  L  tính  đến  ngày  30/12/2016  tổng  cộng  số  tiền 2.367.511.296 đồng bao gồm: nợ gốc là 2.182.058.721 đồng và lãi phạt chậm thanh toán là 185.452.575 đồng. Do đã nhiều lần yêu cầu nhưng Công ty Tvẫn không thực hiện nghĩa vụ thanh toán.

Nay Công ty cổ phần tập đoàn L yêu cầu Tòa án buộc Công ty trách nhiệm hữu hạn sản xuất – Thương mại – Dịch vụ T thanh toán cho công ty cổ phần tập đoàn L số tiền vốn theo hóa đơn + lãi tổng cộng là 2.367.511.296 đồng (Hai tỷ ba trăm sáu mươi bảy triệu năm trăm mười một ngàn hai trăm chín mươi sáu đồng) trong đó số tiền vốn theo hóa đơn là 2.182.058.721 đồng + lãi 185.452.575 đồng,

Công ty cổ phần tập đoàn L không yêu cầu tiền lãi phát sinh.

Đối với bị đơn: Công ty trách nhiệm hữu hạn sản xuất – Thương mại – Dịch vụ T: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt và niêm yết hợp lệ thông báo thụ lý, các thông báo về phiên họp kiểm tra về việc giao nộp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, thông báo về việc thu thập được tài liệu, chứng cứ và thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ nhưng Công ty trách nhiệm hữu hạn sản xuất – Thương mại – Dịch vụ T vẫn vắng mặt các buổi phiên họp giao nộp chứng cứ và hòa giải vẫn vắng mặt không có lý do. Tòa án tiến hành xác minh đối với Công ty T nhưng không tiến hành lấy lời khai được người đại diện của công ty. Qua thông tin được được biết hiện Công ty T vẫn còn hoạt động để duy trì máy móc và đảm bảo việc làm cho người lao động, tài sản đã bị kê biên nên lợi nhuận thu được do ngân hàng thu giữ. Sau đó Tòa án cũng tiến hành xác minh nơi đăng ký hộ khẩu của ông Nguyễn Thái S và bà Nguyễn Thị Huệ T  thì được biết ông S  và bà Huệ T vẫn còn hộ khẩu tại Số 25/33, Trần Hưng Đ, khóm T, Phường Mỹ Thới, Thành phố L, An Giang. Do đó Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt Công ty T theo quy định pháp luật

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành phát biểu quan điểm cho rằng: Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự; Nguyên đơn đã chấp hành đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự; Bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông S  đã không chấp hành đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Về nội dung vụ án: Căn cứ vào các chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án, kết quả việc hỏi tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến là chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]  Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết:  Công ty cổ phần tập đoàn L có đơn khởi kiện về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa và yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Châu Thành nơi có trụ sở của bị đơn Công ty T giải quyết. Theo quy định tại khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.

[1.2] Về nơi cư trú của bị đơn: Công ty trách nhiệm hữu hạn sản xuất – Thương mại – Dịch vụ T có trụ sở tại thị trấn A, huyện C, tỉnh An Giang. Ngày 12/6/2019 Công an phường M, thành phố L, tỉnh An Giang xác nhận ông Nguyễn Thái S  và bà Nguyễn Thị Huệ T có đăng ký hộ khẩu tại phường M, thành phố L, tỉnh An Giang nhưng hiện nay không có mặt tại địa phương, khi đi không trình báo cho chính quyền địa phương biết nơi cư trú mới theo quy định tại khoản 3 Điều 40 Bộ luật dân sự năm 2015. Do đó, Tòa án xác định nơi cư trú cuối cùng của ông S và bà T và tiến hành niêm yết các thông báo, quyết định tố tụng cho bị đơn tại địa chỉ các đương sự đã cung cấp là số 478 Quốc lộ 91, ấp H, thị trấn A, huyện C, tỉnh An Giang và cho ông S, bà T tại số nhà 25/33, khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh  An  Giang  và  đúng  theo  quy định  tại điểm a khoản 2 Điều 6 Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

[1.3] Bị đơn Công ty trách nhiệm hữu hạn sản xuất – Thương mại – Dịch vụ T do bà Nguyễn Thị Huệ T đại diện theo pháp luật và Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Thái S đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do, căn cứ vào khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt đối với bị đơn và Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

[2] Về nội dung tranh chấp:

[2.1]  Căn cứ vào hợp đồng nguyên tắc số: 02AG/2016.HĐNT-BB  ngày 1/1/2016 thì Chi nhánh công ty cổ phần tập đoàn L- Chi nhánh Xí nghiệp Bình Đức đã thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa theo đó Công ty cổ phần tập đoàn L có nhận gia công nhiều loại bao bì cho Công ty T. Trong quá trình thực hiện giao dịch mua bán, Công ty Tcòn nợ công ty cổ phần tập đoàn L số tiền 2.182.058.721 đồng theo bảng xác nhận công nợ ngày 7/12/2016.

Xét về nội dung tranh chấp trên Hội đồng xét xử nhận thấy: Công ty cổ phần tập đoàn L đã thực hiện xong phần nghĩa vụ của mình là giao hàng hóa với mặt hàng, số lượng, chất lượng, qui cách đúng theo thỏa thuận tại hợp đồng và theo yêu cầu từng lần đặt hàng của công ty T, tuy nhiên phía Công ty T không thực hiện thanh toán tiền theo thỏa thuận. Công ty T đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán tiền mua hàng và thời hạn thanh toán theo Điều 50, Điều 55 Luật Thương mại. Việc vi phạm này đã ít nhiều làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của công ty cổ phần tập đoàn L. Do đó, Công ty cổ phần tập đoàn L yêu cầu bị đơn phải thanh toán số tiền còn nợ là hoàn toàn có căn cứ và phù hợp với pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[2.2]Về phần lãi suất chậm trả: Tại Điều 5 của Hợp đồng nguyên tắc giữa Công ty cổ phần tập đoàn L với Công ty T“Nếu thanh toán quá hạn, bên B phải thanh toán tiền lãi phạt chậm thanh toán theo lãi suất quá hạn của Ngân hàng Vietcombank tại thời điểm thanh toán, nhưng thời gian nợ quá hạn không quá 30 ngày”. Do Công ty T vi phạm nghĩa vụ theo hợp đồng nên Công ty cổ phần tập đoàn L yêu cầu tính lãi chậm trả theo hợp đồng của các hóa đơn với số tiền 185.452.575  đồng. Tại phiên tòa hôm nay đại diện công ty cổ phần tập đoàn L không yêu cầu tính lãi phát sinh thêm cho đến ngày xét xử. Đây là sự tự nguyện của Công ty cổ phần tập đoàn L và có lợi cho phía bị đơn nghĩ nên chấp nhận.

Như vậy, Công ty T có nghĩa vụ thanh toán cho Công ty cổ phần tập đoàn L số tiền vốn theo hóa đơn, lãi suất tổng cộng là 2.367.511.296 đồng

[3] Về án phí sơ thẩm: Theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Điều 27 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc Hội khóa XIV quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Yêu cầu khởi kiện của công ty cổ phần tập đoàn L được chấp nhận nên được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp.

- Công ty trách nhiệm hữu hạn sản xuất – Thương mại – Dịch vụ T phải chịu tiền án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ các điều: 30, 35, 39,147, 227, 228, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Điều 305 Bộ luật dân sự năm 2005, Khoản 1 Điều 24, Điều 50, Điều 55, Luật Thương mại năm 2005; Khoản 3 Điều 40 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điểm a khoản 2 Điều 6 Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty cổ phần tập đoàn L

2. Buộc Công ty trách nhiệm hữu hạn sản xuất – Thương mại – Dịch vụ T có nghĩa vụ thanh toán cho Công ty cổ phần tập đoàn L số tiền 2.367.511.296đ (Hai tỷ ba trăm sáu mươi bảy triệu năm trăm mười một ngàn hai trăm chín sáu đồng) trong đó số tiền vốn theo hóa đơn là 2.182.058.721 đồng đồng+ lãi 185.452.575 đồng.

3. Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

4. Về án phí: Công ty trách nhiệm hữu hạn sản xuất – Thương mại – Dịch vụ T phải chịu 79.350.226 đ (Bảy mươi chín triệu ba trăm năm mươi ngàn hai trăm hai mươi sáu đồng) án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm theo quy định.

5. Hoàn trả cho Công ty cổ phần tập đoàn L nhận số tiền 39.675.000đ (Ba mươi chín triệu sáu trăm bảy mươi lăm ngàn đồng) tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu số 0013938 ngày 17/1/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh An Giang

6. Về kháng cáo: công ty cổ phần tập đoàn L được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (24/7/2019). Công ty trách nhiệm hữu hạn sản xuất – Thương mại – Dịch vụ T và ông Nguyễn Thái S  vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ khi nhận được tống đạt hoặc niêm yết bản án.

7. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


171
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về