Bản án 05/2019/HNGĐ-ST ngày 15/03/2019 về tranh chấp ly hôn và nuôi con chung

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯ PĂH, TỈNH GIA LAI

BẢN ÁN 05/2019/HNGĐ-ST NGÀY 15/03/2019 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN VÀ NUÔI CON CHUNG

Trong ngày 15 tháng 3 năm 2019 tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Chư Păh, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 105/2018/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 9 năm 2018, về việc: “Tranh chấp ly hôn và nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2019/QĐXXST-HNGĐ, ngày 18 tháng 01 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa ngày 18/02/2019, giữa các đương sự:

-Nguyên đơn: Bà Ngô Thị H, sinh năm 1965.

Đa chỉ: Thôn 5, xã Nghĩa Hòa, huyện Chư Păh, tỉnh Gia Lai; (có mặt).

-Bị đơn: Ông Phạm Hữu P, sinh năm 1968 (tên gọi khác Phạm Thanh P).

Đa chỉ: Thôn 5, xã Nghĩa Hòa, huyện Chư Păh, tỉnh Gia Lai; Vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện, các tài liệu có tại hồ sơ vụ án và tại phiên toà nguyên đơn chị Ngô Thị H trình bày:

Về hôn nhân: Chị H và anh Phạm Hữu P tự nguyện tìm hiểu, rồi đi đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Ia Ka, huyện Chư Păh vào ngày 07/8/1995. Sau khi kết hôn, hai người chung sống với nhau hạnh phúc, tuy nhiên đến những năm gần đây thì vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do anh P ham chơi cờ bạc, không lo làm ăn, gây ra nợ nần dẫn đến xảy ra cãi vã nhau và anh P thường xuyên đánh đập chị H. Khoảng đầu năm 2016 anh P đi làm ăn ở đâu không rõ, thỉnh thoảng về nhà thăm con rồi lại đi, không quan tâm gì đến chị H. Con cái do một mình chị H nuôi dưỡng anh P không phụ giúp gì. Anh P và chị H không ai còn quan tâm hỏi thăm nhau, không liên lạc với nhau. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị Ngô Thị H yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Phạm Hữu P.

Về con chung: Anh P và chị H có 03 con chung là: Phạm Hữu T, sinh ngày 19/4/1996; Phạm Ngô Kiều M, sinh ngày 07/7/1998, cả hai con này đã đủ tuổi thành niên có đủ khả năng tự lập được nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Còn Phạm Ngô Trà M, sinh ngày 21/9/2004, từ nhỏ đến nay đang sống với chị H, chị H nhận chăm sóc nuôi dưỡng cho đến tuổi trưởng thành.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị H không yêu cầu anh P cấp dưỡng.

Về tài sản chung và các nghĩa vụ chung khác: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đi với bị đơn là anh Phạm Hữu P: Trong quá trình Tòa án thụ lý, giải quyết vụ án, Toà án đã tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, Thông báo về phiên hoà giải, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa cho anh P (niêm yết công khai) theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự nhưng anh P không đến Toà án để làm việc, không cung cấp cho Toà án văn bản trình bày ý kiến về yêu cầu khởi kiện của chị H.

Đi diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chư Păh, phát biểu quan điểm như sau:

- Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký,, Hội đồng xét xử từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm HĐXX nghị án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án quy định tại các Điều 28, 35, 39, 68, 93, 94, 95, 96, 97, 195, 196, 203, 220 của Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015. Tại phiên tòa Thẩm phán, HĐXX, Thư ký tòa án đã thực hiện đúng, đầy đủ quyền hạn, trách nhiệm của mình theo đúng quy định bộ luật Tố tụng dân sự.

-Việc tuân theo pháp luật của người tham gia tố tụng từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm HĐXX nghị án; Nguyên đơn đã chấp hành đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình. Bị đơn được triệu tập hợp lệ nhiều lần tại các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng đều vắng mặt. Tại phiên tòa bị đơn vẫn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do, do đó HĐXX vắng mặt bị đơn là phù hợp quy định tại điểm b Khoản 2 Điều 227 và Khoản 3 Điều 228 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015.

- Việc giải quyết vụ án: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

*Về hôn nhân: Căn cứ Điều 56 Luật HNGĐ, Đề nghị HĐXX chấp nhận cho chị Ngô Thị H được ly hôn với anh Phạm Hữu P.

*Về con chung: Căn cứ Điều 81, 82, 83, 84 Luật HNGĐ; xét nguyện vọng của cháu Phạm Ngô Trà M, sinh ngày 21/9/2004, đề nghị HĐXX giáo cháu M cho chị H chăm sóc nuôi dưỡng cho đến tuổi trưởng thành.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị H không yêu cầu anh P cấp dưỡng nên không xem xét.

*Tài sản chung và các nghĩa vụ chung khác: chị H không yêu cầu nên không xem xét.

* Về án phí: Buộc chị Ngô Thị H phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Chị Ngô Thị H khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Phạm Hữu P, có nơi cư trú là thôn 5, xã Nghĩa Hòa, huyện Chư Păh, tỉnh Gia Lai. Vì vậy đây là vụ án: “Tranh chấp ly hôn” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Chư Păh theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã triệu tập anh Phạm Hữu P hợp lệ tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Vì vậy theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn anh P.

[2] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

[2.1] Yêu cầu ly hôn: Chị Ngô Thị H và anh Phạm Hữu P tự nguyện tìm hiểu, sau đó kết hôn và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Ia Ka, huyện Chư Păh vào năm 1995. Do đó, hôn nhân giữa chị H với anh P là hợp pháp, theo đúng quy định của Luật hôn nhân và gia đình. Quá trình chung sống với anh Phạm Hữu P, nhận thấy mâu thuẫn phát sinh trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị Ngô Thị H khởi kiện yêu cầu xin ly hôn.

Trong quá trình giải quyết vụ án Toà án đã tiến hành tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, Thông báo về phiên hoà giải, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, Quyết định đưa vụ án ra xét xử theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự cho anh P đến Tòa án để Tòa án tiến hành hòa giải đoàn tụ gia đình, nhưng anh P không đến Toà án làm việc, không gửi cho Toà án văn bản thể hiện ý kiến của mình về yêu cầu khởi kiện của chị H và tại phiên toà hôm nay anh P vắng mặt. Như vậy anh P không có thiện chí mong muốn được hòa giải đoàn tụ với chị H.

Xét thấy, Luật hôn nhân và gia đình quy định vợ chồng phải có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau cùng chia sẻ. Anh P, chị H là vợ chồng hợp pháp nhưng anh, chị không ở bên nhau để yêu thương và chia sẻ những vấn đề trong cuộc sống hôn nhân, thời gian 03 năm qua đôi bên không liên lạc, không còn quan tâm đến nhau, làm cho mâu thuẫn tình cảm vợ chồng ngày càng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, việc chị H yêu cầu ly hôn với anh P là có căn cứ phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình nên cần chấp nhận.

[2.2] Về con chung: Anh P và chị H có 03 con chung là: Phạm Hữu T, sinh ngày 19/4/1996; Phạm Ngô Kiều M, sinh ngày 07/7/1998, cả hai con này đã đủ tuổi thành niên có đủ khả năng tự lập được nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Còn Phạm Ngô Trà M, sinh ngày 21/9/2004, từ nhỏ đến hiện nay đang sống với chị H, chị H nhận chăm sóc nuôi dưỡng, chị H là giáo viên, có thu nhập ổn định và nguyện vọng của cháu M muốn được sống với mẹ nên giao con là Phạm Ngô Trà M cho chị Hường nuôi dưỡng là phù hợp.

[2.3] Về cấp dưỡng nuôi con: Chị H không yêu cầu anh P cấp dưỡng nên không xem xét, giải quyết.

[2.4] Về tài sản chung và nợ chung: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] Về án phí: Chị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên, Áp dụng:

QUYẾT ĐỊNH

- Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 180; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự;

- Điều 51, Điều 56, Điều 57 của Luật hôn nhân và gia đình;

-Luật phí và Lệ phí; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Toà án;

Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Ngô Thị H.

1.1 Về quan hệ hôn nhân: Chị Ngô Thị H được ly hôn với anh Phạm Hữu P (tên gọi khác Phạm Thanh P).

1.2 Về con chung: Giao Phạm Ngô Trà M, sinh ngày 21/9/2004, cho chị H chăm sóc nuôi dưỡng cho đến khi thành niên có khả năng lao động hoặc có tài sản tự nuôi mình.

1.3 Về cấp dưỡng nuôi con: Chị H không yêu cầu anh P cấp dưỡng nên không xem xét giải quyết.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này. Trong trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, các bên có quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc việc cấp dưỡng nuôi con.

1.4 Về tài sản chung và các nghĩa vụ chung: Chị Ngô Thị H không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết.

1.5 Về án phí: Buộc chị Ngô Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn là: 300.000đ (ba trăm nghìn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là: 300.000đ (hai trăm nghìn đồng) theo biên lai số: 0002544, ngày 14/9/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chư Păh, tỉnh Gia Lai.

2. Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 15/3/2019) nguyên đơn có quyền làm đơn kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai yêu cầu xét xử phúc thẩm. Riêng bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản sao bản án được tống đạt hợp lệ.

3. Về quyền, nghĩa vụ thi hành án: Trường hợp Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


66
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 05/2019/HNGĐ-ST ngày 15/03/2019 về tranh chấp ly hôn và nuôi con chung

Số hiệu:05/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Chư Păh - Gia Lai
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành: 15/03/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về