Bản án 05/2018/HNGĐ-ST ngày 02/02/2018 về ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN ĐỀ, TỈNH SÓC TRĂNG

BẢN ÁN 05/2018/HNGĐ-ST NGÀY 02/02/2018 VỀ LY HÔN

Trong ngày 02/02/2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm, công khai vụ án thụ lý số 203/2017/TLST-HNGĐ ngày 20/11/2017, về việc “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2018/QĐST-HNGĐ ngày 02/01/2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số 02/2018/QĐST-HNGĐ ngày 19/01/2018 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Bà Trương Thị H; Sinh ngày: 01/01/1996; Địa chỉ cư trú: Ấp Đ, xã V, huyện T, tỉnh Sóc Trăng. (có mặt)

* Bị đơn: Ông Triệu Xa Q; Sinh ngày: 16/02/1995; Địa chỉ cư trú: Ấp G, thị trấn L, huyện T, tỉnh Sóc Trăng. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện do bà Trương Thị Hảo lập ngày 14/8/2017, biên bản lấy lời khai đương sự ngày 07/12/2017, tại biên bản hòa giải ngày 07/12/2017 và tại phiên tòa, nguyên đơn Trương Thị H trình bày như sau: Vào năm 2015, bà Trương Thị H và ông Triệu Xa Q tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã V, huyện T, tỉnh Sóc Trăng cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 33 ngày 27/02/2015. Sau khi kết hôn, vợ chồng bà H, ông Q chung sống không hạnh phúc, thường xuyên cãi vã với nhau, đến tháng 3/2016 vợ chồng ly thân đến nay. Vợ chồng bà H, ông Q không có con chung, không có tài sản chung và nợ chung. Nay bà H yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông Q. Về con chung, tài sản chung và nợ chung, bà H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Theo biên bản lấy lời khai đương sự ngày 07/12/2017 và biên bản hòa giải ngày 07/12/2017, bị đơn Triệu Xa Q trình bày như sau: Vào năm 2015, ông Triệu Xa Q và bà Trương Thị H tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã V, huyện T, tỉnh Sóc Trăng cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 33 ngày 27/02/2015. Sau khi kết hôn, vợ chồng ông Q, bà H chung sống hạnh phúc nhưng đến năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn, sau đó ông Q bỏ nhà đi và vợ chồng ly thân từ tháng 3/2016 đến nay. Vợ chồng ông Q, bà H không có con chung, không có tài sản chung và nợ chung. Nay ông Q không thống nhất ly hôn với bà H. Về con chung, tài sản chung và nợ chung, ông Q không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Đề tại phiên tòa:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã chấp hành đúng pháp luật tố tụng dân sự. Từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn thực hiện quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Đối với bị đơn không chấp hành giấy triệu tập của Tòa án là chưa thực hiện đúng nghĩa vụ theo Điều 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

- Về việc giải quyết vụ án: Xét thấy tình cảm vợ chồng bà Trương Thị H, ông Triệu Xa Q không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu của bà H cho vợ chồng bà H, ông Q ly hôn và buộc bà H chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về thủ tục tố tụng:

[2] Về thủ tục thụ lý việc khởi kiện của nguyên đơn: Ngày 10/11/2017, Tòa án nhân dân huyện Trần Đề nhận được đơn khởi kiện của bà Trương Thị H lập ngày 14/8/2017 cùng các tài liệu, chứng cứ kèm theo do bà H nộp trực tiếp tại Tòa án. Ngay sau khi nhận được đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ kèm theo, Tòa án thực hiện thủ tục nhận, xử lý đơn khởi kiện của bà H và thụ lý vụ án theo đúng quy định tại các điều 191 và 195 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[3] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Theo đơn khởi kiện lập ngày 14/8/2017, bà Trương Thị H yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông Triệu Xa Q có nơi cư trú tại ấp G, thị trấn L, huyện T, tỉnh Sóc Trăng. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử xác định việc Tòa án nhân dân huyện Trần Đề thụ lý, giải quyết vụ án theo trình tự sơ thẩm là đúng quy định của pháp luật về thẩm quyền giải quyết vụ án.

[4] Về xét xử vắng mặt đương sự: Bị đơn Triệu Xa Q vắng mặt lần thứ hai tại phiên tòa không có lý do khi đã được Tòa án triệu tập hợp lệ. Căn cứ vào khoản 3 Điều 228, điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 235 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử quyết định vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[5] Xét yêu cầu của nguyên đơn Trương Thị H: Bà Trương Thị H, sinh ngày 01/01/1996 và ông Triệu Xa Q, sinh ngày 16/02/1995 tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã V, huyện T, tỉnh Sóc Trăng cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 33 ngày 27/02/2017, nên quan hệ hôn nhân giữa bà H và ông Q là hợp pháp. Từ tháng 03/2016 đến nay, vợ chồng bà H, ông Q không còn chung sống với nhau do vợ chồng xảy ra mâu thuẫn và ông Q bỏ nhà đi. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tổ chức hòa giải để động viên vợ chồng bà H, ông Q đoàn tụ với nhau, tuy nhiên phía bà H kiên quyết xin ly hôn nên hòa giải đoàn tụ không thành. Như vậy, tình trạng của vợ chồng bà H, ông Q đã trở nên trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, xét việc bà H xin ly hôn là có căn cứ và phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[6] Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Bà H và ông Q xác định vợ chồng bà H, ông Q không có con chung, tài sản chung và nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[7] Về án phí: Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bà Trương Thị H chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với vụ án ly hôn là 300.000 đồng.

[8] Về quyền kháng cáo bản án: Căn cứ vào Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, các đương sự có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày Tòa án tống đạt hợp lệ bản án cho các đương sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

* Căn cứ: khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

* Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Bà Trương Thị H và ông Triệu Xa Q được ly hôn.

2. Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Bà Trương Thị H và ông Triệu Xa Q không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Trương Thị H chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với vụ án ly hôn là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng), nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006505 ngày 15/11/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng. Ông Triệu Xa Q không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo bản án: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với bị đơn Triệu Xa Q vắng mặt tại phiên tòa, thời hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày Tòa án tống đạt hợp lệ bản án cho bị đơn Triệu Xa Q.


73
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 05/2018/HNGĐ-ST ngày 02/02/2018 về ly hôn

Số hiệu:05/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Trần Đề - Sóc Trăng
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 02/02/2018
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
 
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về