Bản án 04/2019/HS-ST ngày 19/03/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÌNH LẬP, TỈNH LẠNG SƠN

BẢN ÁN 04/2019/HS-ST NGÀY 19/03/2019 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Trong ngày 19 tháng 3 năm 2019 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Đình Lập, tỉnh Lạng Sơn mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 05/2019/TLST-HS, ngày 18 tháng 02 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 08/2019/QĐXXST-HS, ngày 01 tháng 3 năm 2019 đối với bị cáo:

Trần Văn B, tên gọi khác: Không có, sinh ngày 20 tháng 02 năm 1987 tại xã L, huyện S, tỉnh Bắc Giang; nơi cư trú (đăng ký hộ khẩu thường trú): thôn T, xã L, huyện S, tỉnh Bắc Giang; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: San Chí; tôn giáo: Không theo tôn giáo nào; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn A và con bà Lý Thị B; có vợ là Hoàng Thị M; con: Có 02 con, lớn sinh 2013, nhỏ sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: Không có; nhân thân: Tốt; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 06 tháng 12 năm 2018 tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đình Lập đến nay có mặt tại phiên toà.

- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Đinh Công T - Luật sư trợ giúp pháp lý thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Lạng Sơn. Có mặt

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Công ty trách nhiệm hữu hạn Đ - Trụ sở tại Số E, Khu F, thị trấn C, huyện S, tỉnh Bắc Giang do ông Lê Thành N đại diện theo uỷ quyền. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 20 giờ ngày 06 tháng 12 năm 2018, Tổ công tác Công an huyện Đ1, tỉnh Lạng Sơn phối hợp với chính quyền xã L1, huyện Đ1 đang làm nhiệm vụ tuần tra tại thôn K, xã L1, huyện Đ1, tỉnh Lạng Sơn thì bắt quả tang đối tượng Trần Văn B, sinh ngày 20 tháng 02 năm 1987 trú tại thôn T, xã L, huyện S1, tỉnh Bắc Giang đang tàng trữ trong người 1,079 gam Hêrôin. Quá trình điều tra, Trần Văn B khai nhận:

Khoảng 13 giờ ngày 06 tháng 12 năm 2018 Trần Văn B một mình điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 98L1-057.43 đi từ thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh đến huyện S1, tỉnh Bắc Giang để mua xe ô tô nhưng không mua được. Sau đó B điều khiển xe mô tô về huyện S1, tỉnh Bắc Giang, trên đường đi B nảy sinh ý định mua ma tuý về sử dụng. Khi đến ngã ba Y huyện S1, B đưa cho K 1.200.000 đồng và nói: “anh đi lấy hộ em”, K không nói gì cầm tiền rồi phóng xe máy đi. B ngồi uống nước ở điểm chờ xe Buýt đợi K, khoảng 25 phút sau rồi B đi ra khu vực đằng sau cây xăng Y đợi khoảng 05 phút thì thấy K đến. Tại đó K đưa cho B 01 gói giấy bạc màu xanh bên trong có 01 túi nilon kẹp dính một đầu chứa một cục ma tuý, B cầm lấy ma tuý để ở tay trái và điều khiển xe đi về hướng S khoảng 03 km thuộc khu vực xã G, huyện S1, tỉnh Bắc Giang thì dừng lại đi lên vườn Keo cách Quốc lộ 31 khoảng 15 đến 20 m, B bỏ gói ma tuý ra để sử dụng luôn tại đấy bằng hình thức hít. Sau đó B chia gói ma tuý ra làm ba phần và cắt mảnh giấy bạc màu xanh gói ma tuý từ lúc mua để gói, phần ma tuý lớn hơn B để trong túi nilon màu trắng một đầu kẹp dính và gói lại bằng giấy bạc màu xanh cho vào bao thuốc lá KENT để túi quần trước bên phải, hai phần ma tuý nhỏ hơn B gói trong giấy bạc màu xanh cho vào bao thuốc lá WIN để ở túi quần trước bên trái. Chia ma tuý xong B điều khiển xe máy đi về hướng thị trấn A khoảng 10 phút rồi đi tiếp lên thị trấn NT, huyện Đ1, tỉnh Lạng Sơn với mục đích tìm gặp Nguyễn Mạnh H, sinh năm 1990 trú tại Khu O, thị trấn NT, huyện Đ1 để hỏi tìm mối giao lợn. Khi đến địa phận xã H, huyện S1, tỉnh Bắc Giang thì B dừng xe lại lấy gói ma tuý ở bao thuốc lá WIN ra cho vào bao thuốc KENT rồi cho vào túi quần trước bên phải rồi tiếp tục đi về hướng Đình Lập. Khoảng 20 giờ cùng ngày, B đi đến thôn K, xã L1, huyện Đ1, tỉnh Lạng Sơn thì bị bắt giữ như đã nêu trên.

Qua giám định, kết quả: Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn kết luận: “Các cục chất bột màu trắng gửi giám định đều là chất ma tuý Hêrôin” có tổng khối lượng 1,079gam đã trừ bì.

Ngoài ra Trần Văn B còn khai nhận vào khoảng tháng 4 năm 2018 trong một lần uống rượu tại nhà Lê Văn N1 ở thôn U, xã L, huyện S1, tỉnh Bắc Giang thì có Lưu Văn T1 sinh năm 1993 trú tại thôm V, xã Q, huyện S1, tỉnh Bắc Giang gọi B ra ngoài hỏi có muốn lấy đồ giải rượu không, B đồng ý thì T1 gọi điện cho Lý Văn X sinh năm 1995 ở thôn U, xã L, huyện S1, tỉnh Bắc Giang nhờ mua ma tuý. Khoảng một tiếng sau X đem ma tuý đến cho T1 thì T1 và B cùng nhau mang lên đồi ở gần nhà cùng nhau hít. Biết Lý Văn X mua được ma tuý nên B nhờ X đưa đi mua ma tuý. X đưa B đến ngã ba thị trấn Y, huyện U, tỉnh Bắc Giang gặp một người đàn ông tên K không rõ họ tên, địa chỉ để nhờ mua ma tuý. Từ đó B thường xuyên mua ma tuý về sử dụng. Đến thời điểm bị bắt vào ngày 06 tháng 12 năm 2018, B đã nhờ K mua hộ khoảng 15 đến 20 lần, lần ít nhất là 200.000 đồng, lần nhiều nhất là 1.200.000 đồng.

Vật chứng thu được gồm: 01 (một) gói giấy bạc màu xanh, bên trong là túi Nilon màu trắng; 02 gói nhỏ giấy bạc màu xanh bên trong mỗi gói chứa cục chất bột màu trắng. Sau khi giám định vật chứng còn lại được gói trong một gói giấy đựng 0,792 gam (phần hao hụt do giám định) và toàn bộ các vỏ bao gói; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F1 màu trắng bạc, có số IMEI: 869125024165974, số IMEI 1: 869125024165966, điện thoại cũ đã qua sử dụng; 01 (một) con dao lam bằng kim loại màu trắng có chữ CROMA đã qua sử dụng; 01 (một) vỏ bao thuốc lá nhãn hiện KENT màu trắng xanh; 19 (mười chín) mảnh giấy bạc màu trắng được cắt gọn hai đầu có diện 02x 07 cm; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu YAMHA EXCITER màu sơn xanh đen biển kiểm soát 98L1-057.43; Tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tổng số 1.800.000 đồng gồm 09 tờ polyme mệnh giá 200.000 đồng/tờ.

Về trách nhiệm dân sự: Chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMHA EXCITER màu sơn xanh đen biển kiểm soát 98L1-057.43 là của Trần Văn B đã thuê của Công ty Trách nhiệm hữu hạn Đ với mục đích sử dụng cho cá nhân hiện đang bị tạm giữ tại Công an huyện Đình Lập. Người đại diện Công ty yêu cầu được trả lại chếc xe trên và không yêu cầu bồi thường.

Tại bản Cáo trạng số 05/CT-VKS-KSĐT, ngày 14 tháng 02 năm 2019, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đình Lập, tỉnh Lạng Sơn đã truy tố bị cáo Trần Văn B về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đình Lập, tỉnh Lạng Sơn vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị: Tuyên bố bị cáo Trần Văn B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo mức hình phạt từ 24 tháng đến 30 tháng tù giam, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Đề nghị tịch thu tiêu huỷ số ma tuý đã thu của bị cáo và các vật chứng khác, gồm: 01 (một) con dao lam bằng kim loại màu trắng có chữ CROMA đã qua sử dụng; 01 (một) vỏ bao thuốc lá nhãn hiện KENT màu trắng; 19 (mười chín) mảnh giấy bạc màu trắng được cắt gọn hai đầu có diện 02x 07 cm;

Trả lại bị cáo: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F1 màu trắng bạc, có số IMEI: 869125024165974, số IMEI 1: 869125024165966, điện thoại cũ đã qua sử dụng; tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tổng số 1.800.000 đồng gồm 09 tờ polyme mệnh giá 200.000 đồng/tờ.

Đề nghị trả lại cho Công ty TNHH Đ chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMHA EXCITER màu sơn xanh đen biển kiểm soát 98L1-057.43 do Trần Văn B đã thuê của Công ty Trách nhiệm hữu hạn Đ.

Tại phần tranh luận, Luật sư bào chữa cho bị cáo có ý kiến tranh luận: Trước toà các chứng cứ, tài liệu đã được công khai, đại diện Viện kiểm sát đã lập luận và đưa ra tình tiết giảm nhẹ tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự và bị cáo không có tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51. Luật sư nhất trí với ý kiến của vị đại diện Viện kiểm sát. Tuy nhiên, bị cáo là người dân tộc thiểu số nhận thức xã hội còn hạn chế, có hai con nhỏ, tại địa phương bị cáo chấp hành tốt chính sách pháp luật của Nhà nước. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp hơn mức mà vị đại diện Viện kiểm sát đã đề nghị. Bị cáo không có ý kiến bổ sung ý kiến của Luật sư. Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm vì các điều kiện hoàn cảnh của bị cáo đều đã được Viện kiểm sát xem xét đầy đủ. Bị cáo nói lời sau cùng tỏ ra ăn năn, hối cải và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để sớm được trở về địa phương.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra Công an huyện Đình Lập, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Đình Lập, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự và đã tạo điều điều kiện để bị cáo mời Luật sư bào chữa cho bị cáo. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại giai đoạn điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định trong Tố tụng Hình sự và tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ cơ sở khẳng định: Bị cáo Trần Văn B vào ngày 06 tháng 12 năm 2018 đã có hành vi tàng trữ trái phép trong người 1.079 gam Hêrôin nhằm mục đích để sử dụng cho bản thân, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

[3] Xét tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do bị cáo thực hiện là rất nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến sức khoẻ của bản thân, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi và năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ việc tàng trữ trái phép ma tuý trong người là vi phạm pháp luật, song vì mục đích tàng trữ để sử dụng cho bản thân, nên bất chấp pháp luật bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo đã có đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Do đó việc Viện kiểm sát nhân dân huyện Đình Lập, tỉnh Lạng Sơn truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng khung hình phạt.

[4] Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân tốt vì chưa có tiền án, tiền sự, chấp hành tốt chính sách pháp luật tại địa phương.

[5] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên xét tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung, nhưng cần xem xét giảm nhẹ phần nào mức hình phạt cho bị cáo để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà yên tâm cải tạo, sớm trở thành người có ích cho gia đình và xã hội. Đối với lời bào chữa của Luật sư cho bị cáo tại phiên toà hôm nay, Hội đồng xét xử xét thấy tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát đã đưa ra được tình tiết giảm nhẹ và điều kiện, hoàn cảnh của bị cáo, nên Hội đồng xét xử áp dụng mức án trên mức khởi điểm là phù hợp với số ma tuý mà bị cáo đã tàng trữ.

Đối với đối tượng tên K do không có họ và tên đệm cũng như địa chỉ cụ thể, nên Cơ quan điều tra không thể tiến hành xác minh, điều tra và Viện kiểm sát không có căn cứ để truy tố, nên Hội đồng xét xử không có cơ sở xem xét.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét. Việc người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan yêu cầu được trả lại chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMHA EXCITER màu sơn xanh đen biển kiểm soát 98L1- 057.43. Xét thấy chiếc xe mô tô này bị cáo đã bán cho Công ty nên căn cứ vào khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự, trả lại Công ty Trách nhiệm hữu hạn Đ.

[7] Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo vì bị cáo là dân tộc thiểu số sinh sống tại vùng có điều kiện Kinh tế - Xã hội đặc biệt khó khăn và tại địa phương bị cáo không sở hữu tài sản gì và có thu nhập thấp (các bút lục 81, 82, 83).

[8] Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu huỷ toàn bộ số ma tuý và các vật chứa ma tuý kèm theo;

Trả lại bị cáo 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F1 màu trắng bạc, có số IMEI: 869125024165974, số IMEI1: 869125024165966, điện thoại cũ đã qua sử dụng vì không liên quan đến tội phạm; tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tổng số 1.800.000 đồng.

Về án phí: Mặc dù bị cáo bị kết án nhưng do bị cáo là dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện Kinh tế - Xã hội đặc biệt khó khăn nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự sơ thẩm nộp Ngân sách Nhà nước theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình năm 2015:

Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn B phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”:

1. Về hình phạt:

Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Trần Văn B 24 (hai mươi tư) tháng tù giam, thời hạn tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam bị cáo, ngày 06 tháng 12 năm 2018.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1, 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu huỷ:

01 (một) phong bì (cũ) có chữ ký cùng tên của giám định viên Hoàng Đình Chiến, trợ lý giám định và các hình dấu của Phòng kỹ thuật hình sự tại phần giáp lai mới, bên trong có 01 (một) gói giấy đựng 0,792 gam Hêrôin (phần hao hụt dùng làm giám định hết) và toàn bộ các vỏ bao gói (cũ);

- 01 (một) con dao lam bằng kim loại màu trắng có chữ CROMA đã qua sử dụng;

- 01 (một) vỏ bao thuốc lá nhãn hiện KENT màu trắng xanh, đen;

- 19 (mười chín) mảnh giấy bạc màu trắng được cắt gọn hai đầu có diện 02x 07 cm;

Trả lại bị cáo Trần Văn B: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F1 màu trắng bạc, có số IMEI: 869125024165974, số IMEI1: 869125024165966, điện thoại cũ đã qua sử dụng; Tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, tổng số 1.800.000 (một triệu tám trăm nghìn) đồng gồm 09 tờ polyme mệnh giá 200.000 đồng/tờ.

Trả lại chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMHA EXCITER có số khung: 0610GY337432; số máy: G3D4E354345, màu sơn xanh đen biển kiểm soát 98L1- 057.43 cho Công ty Trách nhiệm hữu hạn Đ.

3. Về án phí:

Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo Trần Văn B không phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm nộp Ngân sách Nhà nước.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Áp dụng các điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.


34
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 04/2019/HS-ST ngày 19/03/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

Số hiệu:04/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Đình Lập - Lạng Sơn
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:19/03/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về