Bản án 04/2019/HNGĐ-ST ngày 27/02/2019 về ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ H, TỈNH ĐỒNG THÁP

BẢN ÁN 04/2019/HNGĐ-ST NGÀY 27/02/2019 VỀ LY HÔN

Ngày 27 tháng 02 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã H, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 255/2018/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 12 năm 2018 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 01 năm 2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Nguyễn Thị Yến N, sinh năm 1982 (Có đơn xin vắng mặt);

Địa chỉ cư trú: Khóm An T, phường An L, thị xã H, tỉnh Đồng Tháp.

- Bị đơn: Nguyễn Văn U, sinh năm 1984 (Vắng mặt);

Địa chỉ cư trú: Ấp An H, xã A, thị xã H, tỉnh Đồng Tháp.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện đề ngày 10 tháng 12 năm 2018 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị Yến N trình bày:

Về hôn nhân: Năm 2005, chị Nguyễn Thị Yến N và anh Nguyễn Văn U có tổ chức đám cưới, chung sống với nhau, nhưng không đăng ký kết hôn. Trong thời gian chung sống hạnh phúc và có với nhau 01 người con tên Nguyễn Tiến B, sinh ngày 10 tháng 02 năm 2005. Đến năm 2010, chị và anh U thường xuyên xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống. Từ đó cho đến nay, chị và anh U đã ly thân, không còn sống chung với nhau nữa.

Nay chị Nguyễn Thị Yến N nhận thấy tình cảm vợ chồng không thể kéo dài được nữa, nên chị N xin ly hôn với anh U.

Về nuôi con: Chị N xin được tiếp tục nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Tiến B, sinh ngày 10 tháng 02 năm 2005 (cháu B có nguyện vọng và đang sống chung với chị N) và không yêu cầu anh U cấp dưỡng.

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, chưa yêu cầu giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.

Tòa án nhân dân thị xã H đã triệu tập và tống đạt trực tiếp các văn bản tố tụng cho anh Nguyễn Văn U đầy đủ, đúng quy định của pháp luật, nhưng anh Nguyễn Văn U không có ý kiến phản đối với yêu cầu của nguyên đơn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã H phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều đúng thủ tục tố tụng; phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án: Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị N với anh U; về con chung: Tiếp tục giao con chung tên B cho chị N trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng; về tài sản và nợ chung: Không xem xét, giải quyết.

Chị Nguyễn Thị Yến N khẳng định không yêu cầu, cung cấp tài liệu, chứng cứ gì thêm, yêu cầu Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Chị Nguyễn Thị Yến N khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh Nguyễn Văn U được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Do đó, Tòa án nhân dân thị xã H thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Chị Nguyễn Thị Yến N có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, còn anh Nguyễn Văn U đã được triệu tập hợp lệ lần thư hai nhưng vẫn vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1, 2 Điều 227 và khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt.

[3] Về hôn nhân: Từ năm 2005 cho đến nay, chị Nguyễn Thị Yến N và anh Nguyễn Văn U chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng được quy định tại khoản 1 Điều 14 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[4] Tại khoản 1 Điều 14 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng. Quyền, nghĩa vụ đối với con, tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên được giải quyết theo quy định tại Điều 15 và Điều 16 của Luật này”.

[5] Đối chiếu với quy định trên, Hội đồng xét xử không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Nguyễn Thị Yến N với anh Nguyễn Văn U.

[6] Về con chung: Chị N xin được nuôi dưỡng con chung tên B, còn anh U cũng không có văn bản ghi ý kiến đối với yêu cầu xin nuôi con của chị N, Hội đồng xét xử xét thấy chị N đang nuôi con chung tên Nguyễn Tiến B, phát triển bình thường như bao đứa trẻ khác và cháu B có nguyện vọng sống chung với chị N. Căn cứ vào khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, nên chấp nhận.

[7] Về cấp dưỡng: Chị N là người trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Tiến B, nhưng chị N không yêu cầu anh U thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng, nên anh Nguyễn Văn U không phải cấp dưỡng cho con. Anh Nguyễn Văn U có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

[8] Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, chưa yêu cầu giải quyết, nên không xem xét, giải quyết.

[9] Về nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết, nên không xem xét, giải quyết.

[10] Xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã H: Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị N với anh U; về con chung: Tiếp tục giao con chung tên B cho chị N trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng; về tài sản và nợ chung: Không xem xét, giải quyết là có căn cứ, nên chấp nhận.

[11] Về án phí: Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn không phụ thuộc vào việc Tòa án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn”. Vậy, chị Nguyễn Thị Yến N phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000đồng; anh Nguyễn Văn U không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1, 2 Điều 227 và khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào các Điều 14, 53, 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27, tiểu mục 1.1 Mục 1 phần II (Danh mục án phí) của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Nguyễn Thị Yến N với anh Nguyễn Văn U.

Về con chung: Chị Nguyễn Thị Yến N được quyền tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung tên Nguyễn Tiến B, sinh ngày 10 tháng 02 năm 2005 (Hiện cháu Nguyễn Tiến B đang sống chung với chị Nguyễn Thị Yến N); về cấp dưỡng: Chị Nguyễn Thị Yến N không yêu cầu anh Nguyễn Văn U thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cho con, nên anh Nguyễn Văn U không phải cấp dưỡng cho con. Anh Nguyễn Văn U có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, chưa yêu cầu giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm:

Chị Nguyễn Thị Yến N phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm đã nộp là 300.000đồng theo biên lai thu số:0002745 ngày 12 tháng 12 năm 2018 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã H, tỉnh Đồng Tháp; chị Nguyễn Thị Yến N đã nộp đủ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm;

Anh Nguyễn Văn U không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Chị Nguyễn Thị Yến N và anh Nguyễn Văn U có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


28
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 04/2019/HNGĐ-ST ngày 27/02/2019 về ly hôn

Số hiệu:04/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thị xã Hồng Ngự - Đồng Tháp
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 27/02/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
 
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về