Bản án 04/2019/HNGĐ-ST ngày 23/05/2019 về ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH CỬU, TỈNH ĐỒNG NAI

BẢN ÁN 04/2019/HNGĐ-ST NGÀY 23/05/2019 VỀ LY HÔN

Trong ngày 23 tháng 5 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 436/2018/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 12 năm 2018 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 5 năm 2019, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Ngọc H, sinh năm 1997;

Nơi đăng ký thường trú: Tổ 13, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh.

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Long H1, sinh năm 1995;

Nơi đăng ký thường trú: ấp C, xã Ph, huyện V, tỉnh Đồng Nai.

Chỗ ở hiện nay: Ấp B, xã Ph, huyện V, tỉnh Đồng Nai.

(Chị H có đơn xin xét xử vắng mặt, anh H1 có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện đề ngày 15/10/2018, các bản khai, biên bản hòa giải tại  Tòa án nguyên đơn chị Nguyễn Ngọc H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Long H1 tự nguyện tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Ph, huyện V, tỉnh Đồng Nai, được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 25/2018, ngày 02/5/2018. Tuy nhiên, chị và anh Nguyễn Long H1 chưa tổ chức đám cưới và sống chung với nhau. Trong thời gian chuẩn bị đám cưới hai bên gia đình xảy ra mâu thuẫn trong việc tổ chức lễ cưới dẫn đến giữa chị và anh H1 xảy ra mâu thuẫn và hai bên không tiến hành tổ chức đám cưới theo phong tục. Từ đó, giữa chị và anh H1 nảy sinh nhiều mâu thuẫn không thể hàn gắn để sống chung với nhau. Vì vậy, chị H yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh H1.

Về con chung: Chị H và anh H1 không có con chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong quá trình xét xử bị đơn anh Nguyễn Long H1 trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị H tự nguyện tìm hiểu rồi đăng ký kết hôn tại UBND xã Phú Lý, huyện Vĩnh Cửu và được cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn như chị H đã trình bày trong đơn khởi kiện. Anh và chị H chưa sống chung với nhau ngày nào, chưa tổ chức đám cưới. Trong quá trình chuẩn bị đám cưới giữa hai bên gia đình xảy ra mâu thuẫn nên lễ cưới không được tiến hành, kể từ đó giữa anh và chị H không còn tình cảm. Nay chị H yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn anh đồng ý.

Về con chung: Anh và chị H không có con chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

* Về tố tụng:

- Việc tuân thủ pháp luật của Thẩm phán từ khi thụ lý hồ sơ là đúng quy định.

- Việc chấp hành pháp luật của Hội đồng xét xử và đương sự là đúng quy định.

* Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc ly hôn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

Về thẩm quyền giải quyết: Chị Nguyễn Ngọc H khởi kiện anh Nguyễn Long H1 yêu cầu giải quyết ly hôn, bị đơn anh H1 có địa chỉ tại: ấp B, xã Ph, huyện V, tỉnh Đồng Nai; Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu.

Nguyên đơn chị Nguyễn Ngọc H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, căn cứ vào Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn là đúng quy định.

[2] Về nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Ngọc H tự nguyện tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Ph, huyện V, tỉnh Đồng Nai được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 25/2018, ngày 02/5/2018, căn cứ Điều 8, 9 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 hôn nhân của anh chị được công nhận là hôn nhân hợp pháp.

Mặc dù anh chị tự nguyện tìm hiểu nhau, tự nguyện đăng ký kết hôn không bị ai ép buộc nhưng giữa chị H và anh H1 chưa sống chung với nhau. Trong quá trình chuẩn bị tổ chức đám cưới giữa hai bên gia đình anh chị xảy ra mâu thuẫn nên không tiến hành được. Từ đó, giữa chị H và anh H1 nảy sinh nhiều mâu thuẫn không muốn về chung sống với nhau. Trong quá trình giải quyết, Tòa án đã tiến hành tổ chức hòa giải nhiều lần để chị H và anh H1 đoàn tụ nhưng anh H1 vắng mặt. Tuy nhiên, tại phiên tòa anh H1 thống nhất về mâu thuẫn vợ cH1ng, không muốn sống chung với chị H và đồng ý ly hôn nên Hội đồng xét xử ghi nhận. Căn cứ vào các Điều 56, 57 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn giữa vợ cH1ng anh chị là có thật, đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, chị H và anh H1 đều đồng ý ly hôn nên yêu cầu khởi kiện của chị H là có căn cứ.

Về con chung: Chị H và anh H1 không có con chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[3] Ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[4] Về án phí: Căn cứ Điều 147, 217, 218 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; chị Nguyễn Ngọc H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 235 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Các Điều 8, 9, 56, 57 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn  Ngọc H về việc “Ly hôn”.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Ngọc H và anh Nguyễn Long H1 thuận  tình ly hôn.

Về con chung: Chị H và anh H1 không có con chung nên không yêu cầu Tòa  án giải quyết.

Về tài sản chung: Không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Về án phí: Chị Nguyễn Ngọc H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí ly hôn, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (ba  trăm ngàn đồng) chị H đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số  004923 ngày 29/11/2018 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Vĩnh Cửu, tỉnh  Đồng Nai.

Bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Nguyên đơn vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án tống đạt hợp lệ, để Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử theo trình tự phúc thẩm.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

98
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 04/2019/HNGĐ-ST ngày 23/05/2019 về ly hôn

Số hiệu:04/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Vĩnh Cửu - Đồng Nai
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành: 23/05/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về