Bản án 04/2019/HNGĐ-ST ngày 21/03/2019 về ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ P, TỈNH GIA LAI

BẢN ÁN 04/2019/HNGĐ-ST NGÀY 21/03/2019 VỀ LY HÔN

Trong ngày 21 tháng 3 năm 2019 tại Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 07/2019/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 01 năm 2019 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 02 năm 2019, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Phạm Thị Thúy V, sinh năm 1972.

Địa chỉ: 119/2 W, tổ 2, phường I, thành phố P, tỉnh Gia Lai.

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1972.

Địa chỉ: 85 Đ, tổ 8, phường T, thành phố P, tỉnh Gia Lai.

Các đương sự đều có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

1. Trong đơn khởi kiện ngày 27-12-2018, bản tự khai ngày 04-01-2019 và tại phiên tòa, nguyên đơn là bà Phạm Thị Thúy V trình bày:

Bà và ông Nguyễn Văn C tự nguyện tìm hiểu và quyết định tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn C, huyện C, tỉnh Gia Lai ngày 14-12-1991.

Thời gian đầu cả hai chung sống hạnh phúc. Sau đó, bà và ông C phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng luôn cãi vã, bất đồng quan điểm sống; ông C thường xuyên đe dọa và chửi bới bà, ông C có quan hệ bất chính với một số người phụ nữ khác và có con riêng, lại nghiện ngập và phải đi cai nghiện 2 lần (lần thứ nhất từ năm 2005 đến năm 2006, lần thứ hai từ năm 2009 đến năm 2011), ông C không tập trung làm ăn để cùng bà xây dựng kinh tế, hạnh phúc gia đình, bà đã khuyên can, tha thứ nhiều lần nhưng ông C không chịu thay đổi mà còn có những lời nói, hành động xúc phạm đến danh dự của bà, do không thể chung sống với ông C được nữa nên bà đã dọn ra ở riêng. Hiện tại cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, không ai còn quan tâm, chăm sóc cho ai, phần người nào chỉ biết người đó. Kể từ ngày bà nộp đơn ly hôn, ông C liên tục quấy rối bà, đã sử dụng nhiều số điện thoại để gọi cho bà vào lúc nửa đêm làm cho bà luôn căng thẳng. Nay, bà không còn tình cảm yêu thương và không thể tiếp tục chung sống với ông C được nữa, vì vậy bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông C.

Bà và ông C có hai con chung là chị Nguyễn Thị Ánh N, sinh ngày 10-12-1992 và anh Nguyễn Thành Đ, sinh ngày 17-5-1996. Hiện tại hai con đã thành niên và có khả năng tự lập nên bà không yêu cầu Tòa án giải quyết về người nuôi con và cấp dưỡng cho con.

Bà không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung và thanh toán nghĩa vụ chung.

2. Tại bản tự khai ngày 05-01-2019 và tại phiên tòa, bị đơn là ông Nguyễn Văn C trình bày:

Ông và bà Phạm Thị Thúy V tự nguyện tìm hiểu và quyết định tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn C, huyện C, tỉnh Gia Lai ngày 14-12-1991. Trong thời gian chung sống, cuộc sống vợ chồng hạnh phúc, gia đình hòa thuận cùng nhau xây dựng kinh tế và nuôi dạy các con, hai vợ không có xảy ra mâu thuẫn gì trầm trọng. Khoảng thời gian gần đây cả hai có bất đồng trong việc xử lý tài sản chung để trả nợ nhưng bà V không đồng ý và tự ý dọn đồ ra ở riêng. Trước đây, ông cũng có mối quan hệ tình cảm với những người phụ nữ khác, nhưng đó chỉ là chuyện bình thường ngoài xã hội, ông chỉ quan tâm và giúp đỡ họ về mặt tinh thần, đến nay ông không còn gặp gỡ những người phụ nữ đó nữa và cho dù có chuyện gì đi nữa thì ông vẫn chăm lo cho vợ con đầy đủ. Bản thân ông nhận thấy, cả hai tuổi đã lớn, mâu thuẫn vợ chồng không trầm trọng nên ông không đồng ý ly hôn với bà V. Ông đề nghị Tòa án tạo điều kiện để cả hai suy nghĩ thật kỹ trước khi quyết định ly hôn. Đồng thời nguyện vọng của ông là muốn vợ chồng đoàn tụ để chăm lo cho con cháu. Trong trường hợp bà V giao hết toàn bộ tài sản chung của vợ chồng cho ông, ông sẽ chấp nhận ly hôn với bà V ngay lập tức.

Ông và bà V có hai con chung là chị Nguyễn Thị Ánh N, sinh ngày 10-12- 1992 và anh Nguyễn Thành Đ, sinh ngày 17-5-1996. Ông không đồng ý ly hôn nên không yêu cầu Tòa án giải quyết quan hệ này.

Ông không đồng ý ly hôn nên ông không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung và thanh toán nghĩa vụ chung.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về quyền khởi kiện và thẩm quyền giải quyết: Bà Phạm Thị Thúy V làm đơn yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai giải quyết ly hôn với ông Nguyễn Văn C. Về nội dung và hình thức đơn khởi kiện của bà Phạm Thị Thúy V đúng quy định tại Điều 189 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên được Tòa án thụ lý. Ông Nguyễn Văn C cư trú tại thành phố P nên Tòa án nhân dân thành phố P có thẩm quyền giải quyết vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị Thúy V và ông Nguyễn Văn C tự nguyện tìm hiểu và quyết định tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn C, huyện C, tỉnh Gia Lai ngày 14-12-1991 nên đây là hôn nhân hợp pháp.

Theo bà V trình bày, bà và ông C thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do cả hai bất đồng quan điểm trong cuộc sống, ông C thường xuyên đe dọa và chửi bới bà, ông C có quan hệ bất chính với một số người phụ nữ khác và có con riêng, lại nghiện ngập và phải đi cai nghiện 2 lần (lần thứ nhất từ năm 2005 đến năm 2006, lần thứ hai từ năm 2009 đến năm 2011), ông C không tập trung làm ăn để cùng bà xây dựng kinh tế, hạnh phúc gia đình, bà đã khuyên can, tha thứ nhiều lần nhưng ông C không chịu thay đổi mà còn có những lời nói, hành động xúc phạm đến danh dự của bà, do không thể chung sống với ông C được nữa nên bà đã đi ở riêng. Kể từ ngày bà nộp đơn ly hôn, ông C liên tục quấy rối bà, đã sử dụng nhiều số điện thoại để gọi cho bà vào lúc nửa đêm làm cho bà luôn căng thẳng, đời sống chung không thể hòa hợp, bà không còn tình cảm yêu thương và bà không thể tiếp tục chung sống với ông C được nữa, vì vậy bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Nguyễn Văn C.

Ông C thì khai rằng, thời gian gần đây, bà V nộp tiền cho Công ty cổ phần đầu tư phát triển Quốc tế để hợp tác kinh doanh nhưng bị thua lỗ dẫn đến bất đồng giữa ông và bà V trong việc xử lý tài sản chung để trả nợ, bà V không đồng ý bán tài sản và tự ý dọn đồ ra ở riêng. Trước đây, ông cũng có mối quan hệ tình cảm với những người phụ nữ khác, nhưng đó chỉ là chuyện bình thường ngoài xã hội, ông chỉ quan tâm và giúp đỡ họ về mặt tinh thần, đến nay ông không còn gặp gỡ những người phụ nữ đó nữa và cho dù có chuyện gì đi nữa thì ông vẫn chăm lo cho vợ con đầy đủ. Trước đây, bà V nói rằng ông có con riêng, vì quá bức xúc nên ông có thừa nhận là ông có con riêng với người phụ nữ khác nhưng tại phiên tòa hôm nay ông khẳng định là ông không có con riêng. Sau khi bà V nộp đơn ly hôn, ông đã cố gắng hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng bà V không gặp ông và đã chặn điện thoại, không trả lời cuộc gọi và tin nhắn của ông. Bản thân ông nhận thấy, cả hai tuổi đã lớn, mâu thuẫn vợ chồng không trầm trọng nên ông không đồng ý ly hôn với bà V. Ông đề nghị Tòa án tạo điều kiện về thời gian để cả hai suy nghĩ thật kỹ trước khi quyết định ly hôn. Đồng thời nguyện vọng của ông là muốn vợ chồng đoàn tụ để chăm lo cho con cháu.

Hội đồng xét xử xét thấy: Lời khai của các bên đương sự cùng với các tài liệu, chứng cứ khác của vụ án đều đã thể hiện, mâu thuẫn vợ chồng giữa bà V và ông C là có thật, phát sinh từ sự không hiểu và không đồng cảm với nhau trong cuộc sống, mâu thuẫn này kéo dài và tích tụ qua thời gian nhưng cả hai bên vợ chồng không có ai có biện pháp gì tích cực và có hiệu quả để cải thiện, vợ chồng không còn lòng tin và tình cảm yêu thương nhau nữa, nên có cơ sở để khẳng định mâu thuẫn đã trở nên trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân là xây dựng một gia đình hòa thuận, hạnh phúc giữa bà V và ông C là không đạt được. Vì vậy, yêu cầu của bà V về việc được ly hôn với ông C là có căn cứ, được chấp nhận.

[3] Về con và cấp dưỡng cho con: Bà V và ông C có hai con chung là chị Nguyễn Thị Ánh N, sinh ngày 10-12-1992 và anh Nguyễn Thành Đ, sinh ngày 17-5-1996. Hiện tại hai con đã thành niên và có khả năng tự lập nên bà V và ông C không yêu cầu Tòa án giải quyết về người nuôi con và cấp dưỡng cho con.

[4] Về tài sản chung và nghĩa vụ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không giải quyết.

[5] Về án phí: Bà V là nguyên đơn xin ly hôn nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 147 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 51 và Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị Thúy V; bà Phạm Thị Thúy V được ly hôn ông Nguyễn Văn C.

2. Bà Phạm Thị Thúy V phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số 0004459 ngày 03-01-2019 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố P, tỉnh Gia Lai; bà Phạm Thị Thúy V đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, các đương sự được quyền làm đơn kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Gia Lai để xét xử phúc thẩm.

4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.


28
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 04/2019/HNGĐ-ST ngày 21/03/2019 về ly hôn

Số hiệu:04/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Pleiku - Gia Lai
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 21/03/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
 
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về