Bản án 04/2018/HSST ngày 28/03/2018 về tội cố ý gây thương tích

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAM LỘ, TỈNH QUẢNG TRỊ

BẢN ÁN 04/2018/HSST NGÀY 28/03/2018 VỀ TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH

Ngày 28 tháng 3 năm 2018, tại Hội trường Uỷ ban nhân dân xã CH, huyện Cam Lộ, Tòa án nhân dân huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 03/2018/TLST - HS ngày 12/02/2018 đối với bị cáo:

Phan Phước D; sinh ngày 25 tháng 10 năm 1980 tại Quảng Trị; nơi cư trú: Thôn TX, xã CH, huyện CL, tỉnh Quảng Trị; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; nghề nghiệp: Làm nghề nông; con ông Phan Phước T, sinh năm 1960 và bà Hoàng Thị L, sinh năm 1959, hiện đều trú tại: Thôn TX, xã CH, huyện CL, tỉnh Quảng Trị; có vợ và 03 con, lớn nhất 13 tuổi, nhỏ nhất 01 tuổi; tiền án, tiền sự: Không có; về nhân thân: Năm 2014, bị công an huyện Cam Lộ xử phạt hành chính về hành vi “đánh bạc”. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, có mặt tại phiên toà.

Bị hại: Trần Quốc A1, sinh năm 1982, nơi cư trú: Khu phố 5, phường ĐT, ĐH, Quảng Trị, có mặt.

Người làm chứng:

Nguyễn Đức A2, sinh năm 1980, nơi cư trú: Thôn MĐ, xã CH, huyện CL, tỉnh Quảng Trị, vắng mặt.

Phan D, sinh năm 1980, nơi cư trú: Thôn TX, xã CH, huyện CL, tỉnh Quản Trị, vắng mặt.

Trần Quang K, sinh năm 1981; nơi cư trú: MĐ, CH, CL, Quảng Trị, vắng mặt.

Hồ Thị H, sinh năm 1986, nơi cư trú: Khu phố 5, phường ĐT, ĐH, Quảng Trị, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ ngày 21/10/2017, Trần Quốc A1, sinh năm 1982, trú tại khu phố 5, phường ĐT, thành phố ĐH cùng Nguyễn Đức A2, sinh năm 1982, trú tại Thôn MĐ, xã CH, huyện CL đến tại quán của anh Trần Quang K ở Thôn MĐ, xã CH, huyện CL uống bia. Đến chiều cùng ngày thì có thêm Phan D, sinh năm 1980 và Phan Phước D, sinh năm 1980 cùng trú tại TX, xã CH đến ngồi uống bia chung với Trần Quốc A1 và Nguyễn Đức A2. Đến khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày, Nguyễn Đức A2 mệt nên vào giường phía trong quán của anh K nằm nghỉ, Trần Quốc A1 ra trả tiền cho chủ quán rồi điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 74H1 – 3091 chạy về nhà, còn Phan D và Phan Phước D tiếp tục uống bia tại quán. Đến khoảng 17 giờ, Trần Quốc A1 quay lại quán anh K, khi thấy Phan Phước D và Phan D đang uống bia và hát karaoke thì Quốc A1 đi đến vị trí Phan Phước D đang ngồi, cầm 01 ghế nhựa, màu đỏ, loại ghế nhỏ có tựa lưng đánh vào người của Phan Phước D. D đưa tay lên đỡ thì bị Quốc A1 đánh trúng mu bàn tay phải. Những người trong quán thấy vậy liền can ngăn đưa Trần Quốc A1 và Phan Phước D ra phía ngoài đường. Lo sợ Trần Quốc A1 bị đánh nên Nguyễn Đức A2 nói với Quốc A1 chạy xe lên nhà Đức A2 để nghỉ lại, Trần Quốc A1 điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 74H1 – 3091, đầu không đội mũ bảo hiểm chạy trên đường nhựa liên thôn theo hướng MĐ – ĐX. Bực tức vì bị Trần Quốc A1 đánh rồi chạy xe bỏ đi, Phan Phước D liền điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 74G1 – 034.48 chạy đuổi theo để đánh lại Quốc A1, khi chạy được khoảng 500m thì D đuổi kịp. Phan Phước D điều khiển xe mô tô chạy vượt lên bên phải xe của Quốc A1 đang di chuyển, rồi dùng chân trái đạp 01 cái vào phần tay cầm phía sau bên phải xe mô tô của Quốc A1 làm xe mô tô cùng với Trần Quốc A1 ngã xuống về phía bên trái, nằm trên mặt đường nhựa. Phan Phước D dừng xe rồi chạy lại vị trí Trần Quốc A1 đang nằm ngã, tay trái của D nắm cổ áo kéo người Quốc A1 lên phía trên ngang khoảng vùng ngực, bụng của D1 rồi dùng tay phải đấm liên tiếp khoảng 5 – 6 cái vào vùng mặt, đầu của Quốc A1. Khi thấy Trần Quốc A1 bị chảy máu vùng mũi, bất tỉnh Phan Phước D không đánh nữa, D thả tay trái đang nắm cổ áo thì Quốc A1 bị ngã tự do xuống đường nhựa về phía sau và nằm bất tỉnh.

Trần Quốc A1 được đưa đi cấp cứu tại bệnh viện đa khoa tỉnh Quảng Trị, chẩn đoán bị chấn thương sọ não kín, tụ máu ngoài màng cứng trán đỉnh phải, đỉnh trái, vỡ xương thái dương đỉnh phải. Điều trị tại bệnh viện đa khoa tỉnh Quảng Trị từ ngày 21/10/2017 đến ngày 03/11/2017 thì ra viện.

Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 219/TgT ngày 28/11/2017 của Trung tâm pháp y tỉnh Quảng Trị kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể của Trần Quốc A1, sinh năm 1982 do thương tích gây nên hiện tại là 34% (ba mươi bốn phần trăm); tổn thương trên do vật tày, cứng, diện rộng tác động trực tiếp.

Về trách nhiệm dân sự: Anh Trần Quốc A1 yêu cầu Phan Phước D bồi thường tổng số tiền: 34.000.000 đồng. Phan Phước D đồng ý và đã bồi thường đầy đủ số tiền theo thỏa thuận.

Tại Cáo trạng số 03/CT – VKSCL - HS ngày 09/02/2018, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cam Lộ đã truy tố bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 2 Điều 104 của Bộ luật hình sự năm 1999.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị giữ nguyên bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Phan Phước D phạm tội “Cố ý gây thương tích”;

Áp dụng: khoản 2 Điều 104, điểm p,b khoản 1, khoản 2 Điều 46, Điều 47, khoản 1, 2 Điều 60 của Bộ luật hình sự 1999; Nghị quyết 41/2017/QH14 và khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 đề nghị xử phạt bị cáo từ: 18 – 24 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 36 – 42 tháng.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng đã quy kết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và bị hại không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Căn cứ vào lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa, lời khai của người bị hại, người làm chứng và những tài liệu chứng cứ khác có căn cứ xác định: Xuất phát từ hành vi của bị hại anh Trần Quốc A1 dùng ghế nhựa đánh vào người của bị cáo không rõ nguyên nhân dẫn đến việc bị cáo Phan Phước D đã đuổi theo dùng chân đạp vào xe của Trần Quốc A1 làm bị hại ngã xuống đường, sau đó tiến đến, dùng tay đánh 5- 6 cái vào đầu của anh Trần Quốc A1 gây thương tích cho anh Trần Quốc A1. Tại bản kết luận giám định thương tích số 219/TgT ngày 28/11/2017 của Trung tâm pháp y tỉnh Quảng Trị đã kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể của Trần Quốc A1 hiện tại là 34%; tổn thương trên do vật tày, cứng, diện rộng tác động trực tiếp. Kết luận này là phù hợp với lời khai của bị cáo, người bị hại và những người làm chứng về hành vi dùng tay đánh của bị cáo đối với bị hại mà không dùng bất cứ hung khí nào. Trên cơ sở đó có đủ căn cứ khẳng định hành vi của bị cáo đã phạm tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại khoản 2 Điều 104 của Bộ luật hình sự năm 1999. Điều luật có khung hình phạt từ 2 năm – 7 năm tù. Theo quy định tại Điều 134 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 thì điều luật này có khung hình phạt từ 2 năm đến 6 năm cho nên cần áp dụng Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội và quy định có lợi cho bị cáo quy định tại Điều 134 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xem xét mức hình phạt cho bị cáo.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sức khỏe của người khác, là quyền bất khả xâm phạm được pháp luật bảo vệ. Mặc dù bị hại có hành vi xâm phạm sức khỏe của bị cáo trước nhưng bị cáo đã không kiềm chế mà đã có hành vi vượt quá giới hạn của pháp luật cho phép. Do đó cần phải xử lý nghiêm đối với bị cáo để phòng ngừa và giáo dục chung.

[3] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Các tình tiết giảm nhẹ: Qúa trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bồi thường toàn bộ thiệt hại theo yêu cầu của bị hại; ngay sau khi có hành vi gây thương tích cho bị hại, bị cáo đã tích cực đưa bị hại vào bệnh viện cấp cứu; bị cáo không có tiền án, tiền sự; trong thời gian đi nghĩa vụ quân sự 2 lần được tặng danh hiệu “Chiến sỹ giỏi”; hơn nữa trong sự việc dẫn đến hành vi phạm tội của bị cáo, thì bị hại cũng có một phần lỗi và hành vi của bị hại đã bị cơ quan công an huyện Cam Lộ xử phạt vi phạm hành chính; bị hại đã có đơn xin bãi nại và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; đây là những tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 của Bộ luật hình sự 1999.

Với những tình tiết giảm nhẹ nêu trên xét thấy không cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà xử cho bị cáo dưới mức khởi điểm của khung hình phạt và cho bị cáo hưởng án treo cũng đủ để răn đe, đồng thời giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.

[4] Về trách nhiệm dân sự: Qúa trình điều tra, bị cáo Phan Phước D đã bồi thường tổng cộng 34.000.000 đồng; người bị hại không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về vật chứng vụ án:

Cơ quan điều tra thu giữ 02 xe môtô của bị cáo và bị hại; quá trình điều tra cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu; việc trả lại tài sản là đúng quy định nên Hội đồng xét xử không xem xét lại.

[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phan Phước D phạm tội "Cố ý gây thương tích”

Áp dụng khoản 2 Điều 104, điểm p, b khoản 1, khoản 2 Điều 46, Điều 47, khoản 1, khoản 2 Điều 60 của Bộ luật hình sự năm 1999; Điều 2 Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội, điểm a khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Phan Phước D 18 (mười tám) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 (ba mươi sáu) tháng kể từ ngày xét xử sơ thẩm (28/3/2018).

Giao bị cáo Phan Phước D cho Uỷ ban nhân dân xã CH, huyện CL, tỉnh Quảng Trị giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

2. Về án phí:  Áp dụng Điều 99 của Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Phan Phước D phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án


46
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về