Bản án 04/2018/HNGĐ-ST ngày 09/01/2017 về tranh chấp ly hôn

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÂN HỒ, TỈNH SƠN LA

BẢN ÁN 04/2018/HNGĐ-ST NGÀY 09/01/2017 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN

Ngày 9 tháng 01 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La; Xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số; 26/2017/TLST- HNGĐ ngày 04 tháng 12 năm 2017, về việc “ Xin ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2017/QĐXX - HNGĐ ngày 20 tháng 12 năm 2017 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Giàng Thị G, sinh năm 1999.

Địa chỉ: Bản PCh, xã Vân Hồ, huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La. ( Có mặt tại phiên tòa).

2. Bị đơn: Anh Sồng A Th, sinh năm 1999.

Đa chỉ: Bản PCh1, xã Vân Hồ, huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La. ( Có mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện ngày 16/11/2017, biên bản ghi lời khai ngày 04/12/2017 tại Toà án nhân dân huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La, nguyên đơn chị Giàng Thị G trình bày:

Chị và anh Sồng A Th chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2017, trên cơ sở tự nguyện theo phong tục tập quán địa phương, không có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Sau khi chung sống với nhau như vợ chồng, anh chị chung sống hạnh phúc được một thời gian ngắn thì sảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, tính tình không hợp, không ai quan tâm đến ai. Chị đã sống ly thân với anh Sồng A Th  từ tháng 5 năm 2017, nay chị G thấy tình cảm vợ chồng không còn yêu cầu Toà án giải quyết cho chị ly hôn với anh Sồng A Th.

Về con chung: Trong thời gian chung sống với nhau như vợ chồng, chị và anh Sồng A Th sinh được một con chung là cháu Giàng A H, sinh ngày 15/6/2017. Nay ly hôn chị yêu cầu được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục cháu Giàng A H đến tuổi trưởng thành không yêu cầu anh Sồng A Th phải cấp dưỡng phí tổn nuôi con chung.

Về tài sản chung, tài sản riêng; Trong thời gian chung sống chị và anh không có tài sản gì giá trị, không yêu cầu Toà án xem xét giải quyết.

Về nợ chung, nợ riêng: Không có.

Tại biên bản ghi tự khai ngày 14/12/2017, anh Sồng A Th trình bày:

Anh và chị Giàng Thị G tự nguyện tìm hiểu và sống với nhau như vợ chồng từ đầu năm 2017, không có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Vợ chồng anh chị chỉ chung sống hạnh phúc được một thời gian ngắn thì sảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, tính tình không hợp, không ai quan tâm đến ai. Hiện nay anh chị đang sống ly thân, chị Giàng Thị G yêu cầu xin ly hôn anh nhất trí.

Về con chung: Nếu phải ly hôn anh nhất trí để chị Giàng Thị G được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Giàng A H, sinh ngày 15/6/2017 đến tuổi trưởng thành, anh nhất trí theo yêu cầu của chị Giàng Thị G, anh không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị G.

Về tài sản chung: Anh và chị G không có tài sản gì đáng kể, không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

Về nợ chung, nợ riêng: Không có.

Tại phiên tòa chị Giàng Thị G vẫn giữ nguyên yêu cầu xin được ly hôn và con chung, anh Sồng A Th nhất trí theo yêu cầu của chị Giàng Thị G.

Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Vân Hồ tại phiên toà, trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán,Thư ký, Hội đồng xét xử và người tham gia tố tụng tuân theo và chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án như sau, Tòa án nhân dân huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La thụ lý vụ án xin ly hôn giữa chị Giàng Thị G và anh Sồng A Th là có căn cứ đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và Luật hôn nhân gia đình, chị Giàng Thị G và anh Sồng A Th không có đăng ký kết hôn, cháu Giàng A H đang dưới 36 tháng tuổi.

Đề nghị áp dụng vào các Điều 9, Điều 14, Điều 15, khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 53, khoản 1, 3 Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 4 Điều 147 BLTTDS năm 2015, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc Hội.

Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Đề nghi Hội đồng xét xử tuyên bố không công nhận quan hệ hôn nhân giữa chị Giàng Thị G và anh Sồng A Th là quan hệ vợ chồng.

Đề nghị giao cháu Giàng A H, sinh ngày 15/6/2017 cho chị Giàng Thị G được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Giàng A H đến khi cháu H trưởng thành đủ 18 tuổi, anh Th không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Anh Sồng A Th có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được phép ngăn cản.

Chị Giàng Thị G phải chịu án phí dân sự trong vụ án xin ly hôn theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Giàng Thị G và anh Sồng A Th tự nguyện tìm hiểu và chung sống với nhau như vợ chồng từ tháng 2 năm 2017 trên cơ sở tự nguyện theo phong tục tập quán địa phương. Không có đăng ký kết hôn là trái với quy định của Luật Hôn nhân và gia đình, quan hệ hôn nhân giữa chị Giàng Thị G và anh Sồng A Th không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của vợ chồng. Vận dụng Điều 9, khoản 1 Điều 14, khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình. Khoản 4 Điều 3 Thông tư liên tịch 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC- BTP ngày 6 tháng 01 năm 2016 hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật hôn nhân và gia đình. Không công nhận quan hệ giữa chị Giàng Thị G và anh Sồng A Th là quan hệ vợ chồng.

[2] Về con chung: Trong thời gian chung sống với nhau như vợ chồng chị Giàng Thị G và anh Sồng A Th sinh được một con chung là cháu Giàng A H, sinh ngày 15/6/2017. Chị G xin được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Giàng A H đến tuổi trưởng thành, không yêu cầu anh Sồng A Th phải cấp dưỡng nuôi con chung, anh Sồng A Th nhất trí. Nay Hội đồng xét xử xét thấy để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho cháu Giàng A H, đặc biệt để đảm bảo cho cháu phát triển về thể chất, đảm bảo việc học hành và điều kiện cho sự phát triển về tinh thần cho cháu Giàng A H. Hiện nay cháu H dưới 36 tháng tuổi, cháu cần sự chăm sóc trực tiếp của người mẹ, đảm bảo cho sự phát triển của cháu đến tuổi trưởng thành. Chấp nhận yêu của chị Giàng Thị G, chị Giàng Thị G được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục cháu Giàng A H, sinh ngày 15/6/2017 đến khi cháu trưởng thành đủ 18 tuổi, anh Sồng A Th không phải cấp dưỡng nuôi con chung, được quyền thăm nom con chung không ai được cản trở. Vận dụng Điều 15, khoản 1, 3 Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình.

[3] Về tài sản chung, tài sản riêng, nợ chung, nợ riêng anh chị không có, không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết. Tòa án không đặt vấn đề xem xét, giải quyết.

[4] Về án phí: Chị Giàng Thị G phải chịu án phí dân sự sở thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La. Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy BanThường vụ Quốc Hội. Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều 9, khoản 1 Điều 14, Điều 15, khoản 1 Điều 51, khoản 2Điều 53, khoản 1, 3 Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình. Khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự. Khoản 4 Điều 3 Thông tư liên tịch số 01/2016/ TTLT- TANDTC- VKSNDTC- BTP ngày 6 tháng 01 năm 2016 hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật hôn nhân và gia đình. Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc Hội. Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử tuyên bố không công nhận quan hệ hôn nhân giữa chị Giàng Thị G và anh Sồng A Th là quan hệ vợ chồng.

2. Về con chung: Giao cháu Giàng A H, sinh ngày 15/6/2017 cho chị Giàng Thị G được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục cháu Giàng A H ( Kể từ ngày 9/01/2018) cho đến khi cháu Giàng A H trưởng thành đủ 18 tuổi. Anh Sồng A Th không phải cấp dưỡng nuôi con chung, anh Sồng A Th có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được phép ngăn cản, cản trở quyền thăm nom, chăm sóc con chung của anh Sồng A Th.

3. Về tài sản chung, tài sản riêng, nợ chung, nợ riêng anh chị không có, không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết. Tòa án không đặt vấn đề xem xét, giải quyết.

4. Về án phí: Chị Giàng Thị G phải chịu án phí dân sự sơ thẩm xin ly hôn là 300.000 đồng, được khấu trừ vào dự phí xin ly hôn đã nộp là 300.000 đồng tại biên lai thu số: AA/2013/04330 ngày 04/12/2017 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La.

5. Về quyền kháng cáo: Báo cho các đương sự chị Giàng Thị G và anh Sồng A Th biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

127
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 04/2018/HNGĐ-ST ngày 09/01/2017 về tranh chấp ly hôn

Số hiệu:04/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Vân Hồ - Sơn La
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:09/01/2017
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về