Bản án 03/2020/HSST ngày 31/01/2020 về tội vận chuyển trái phép chất ma tuý

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SỐP CỘP, TỈNH SƠN LA

BẢN ÁN 03/2020/HSST NGÀY 31/01/2020 VỀ TỘI VẬN CHUYỂN TRÁI PHÉP CHẤT MA TUÝ

Ngày 31 tháng 01 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 04/2020/HSST ngày 08 tháng 01 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2020/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 01 năm 2020 đối với bị cáo:

Vàng Phá L; tên gọi khác: Không; sinh năm: 1962 tại: Huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên; nơi cư trú: Bản P H A, xã P H, huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hoá: Không biết chữ; dân tộc: Mông; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt nam; Con ông: Vàng Sáy C (Đã chết) và bà Sồng Thị P (Đã chết); bị cáo có vợ là Lầu Thị S, sinh năm: 1962 và có 04 con (Đều đã trưởng thành); tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt giam giữ từ ngày 01/10/2019 tại nhà tạm giữ Công an huyện Sốp Cộp, cho đến nay có mặt tại phiên tòa.

* Người phiên dịch cho bị cáo: Ông Giàng A Mơ, sinh năm: 1987, địa chỉ: Bản Ten Lán, xã Sam Kha, huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào hồi 13 giờ 00 phút ngày 01/10/2019, tại khu vực bản Nà Chịa, xã Sam Kha, huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La, tổ công tác Công an huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La, phát hiện bắt quả tang đối tượng: Vàng Phá L, sinh năm: 1962, trú tại: Bản P H A, xã P H, huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên về hành vi cất dấu trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ gồm:

- 01 gói ni lon màu trắng bên trong có chứa 20 viên nén màu hồng (Nghi là ma túy). Được thu giữ trong túi quần bên trái phía trước đang mặc của đối tượng Vàng Phá L;

- 01 chiếc xe mô tô loại xe Win, nhãn hiệu ESRERO, biển kiểm soát: 27B1 - 600.73.

Vào hồi 14 giờ 00 phút ngày 03/10/2019, tại phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, đã tiến hành cân tịnh số vật chứng là 20 viên nén màu hồng thu giữ của đối tượng Vàng Phá L có khối lượng 1,75 gam. Trích rút 10 viên khối lượng 0,87 gam ký hiệu L1 làm mẫu vật gửi giám định, số còn lại 10 viên khối lượng 0,88 gam ký hiệu L2 niêm phong lưu kho vật chứng.

Ti bản Kết luận giám định số: 1542/KLMT ngày 07/10/2019 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: Mẫu gửi giám định ký hiệu L1 là ma túy, loại chất Methamphetamine; khối lượng của mẫu gửi giám định L1 là 0,87 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 1,75 gam, loại Methamphetamine.

Ti Cơ quan CSĐT Công an huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La, bị can Vàng Phá L đã khai nhận hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 07 giờ ngày 01/10/2019, Vàng Phá L sang nhà Vàng A D (Người cùng bản) mượn 01 chiếc xe mô tô BKS:27B1 - 600.73 để vào rừng cắt cỏ Trâu và kiếm Sâu măng về ăn. Khoảng 11 giờ cùng ngày trên đường điều khiển xe mô tô dừng nghỉ dọc đường thì Lầu gặp 01 người đàn ông dân tộc Thái không quen biết, qua nói chuyện thì người đó đặt vấn đề thuê Lầu vận chuyển 20 viên ma túy từ bản Pú Hồng A, xã Pú Hồng - Tuần Giáo - Điện Biên đến địa phận bản Sam Kha, huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La với giá tiền công là 250.000 đồng, vì mong muốn có được số tiền đó nên L đã nhận gói ma túy cất dấu vào trong túi quần bên trái phía trước đang mặc rồi điều khiển xe mô tô đến điểm giao hàng như đã thỏa thuận và vào lúc 13 giờ cùng khi ngày L chạy xe đến khu vực bản Nà Chịa, xã Sam Kha, huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La, thì bị tổ công tác Công an huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La, phát hiện bắt quả tang cùng với số vật chứng như đã nêu.

Ti bản Cáo trạng số: 05/CT-VKS ngày 07/01/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La, đề nghị truy tố bị can Vàng Phá L về tội: Vận chuyển trái phép chất ma tuý, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 250 Bộ luật hình sự năm 2015.

Ti phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sốp Cộp, giữ quan điểm truy tố bị cáo Vàng Phá L về tội danh và điều khoản luật áp dụng như trên.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 250; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015;

- Tuyên bố bị cáo Vàng Phá L phạm tội: Vận chuyển trái phép chất ma tuý và đề nghị xử phạt bị cáo mức án từ 36 đến 40 tháng tù.

- Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền được quy định tại khoản 5 Điều 250 Bộ luật hình sự đối với bị cáo.

Xử lý vật chứng:

Đề nghị áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1, 2 Điều 47 Bộ luật hình sự;

- Tuyên tịch thu tiêu huỷ số vật chứng gồm: 01 mảnh ni lon màu trắng; 01 túi ni lon màu trắng bên trong chứa 10 viên ma túy, loại chất Methamphetamine.

- Chấp nhận việc cơ quan Điều tra Công an huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La đã giao trả chiếc xe mô tô BKS:27B1 - 600.73 cho chủ sở hữu hợp pháp là bà Thào Thị C (Vợ ông Vàng A D).

Về án phí: Đề nghị áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

- Buộc bị cáo nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.

Ti phiên tòa bị cáo Vàng Phá L có ý kiến: Thừa nhận ngày 01/10/2019, đã thực hiện hành vi vận chuyển trái phép 20 viên ma túy, loại loại chất Methamphetamine, khối lượng 1,75 gam với mục đích để được nhận tiền công 250.000 đồng, bị phát hiện bắt quả tang cùng số vật chứng là ma túy. Nay bị cáo đã biết tội, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Về nội dung: Ngày 01/10/2019, bị cáo Vàng Phá L (Có căn cước lý lịch như trên) đã bị bắt quả tang khi đang vận chuyển trái phép chất ma tuý (1,75 gam Methamphetamine) với mục đích hưởng lợi về vật chất (Tiền công vận chuyển là 250.000 đồng). Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự để nhận thức được hành vận chuyển trái phép chất ma túy là nguy hiểm cho xã hội, bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện nhằm hưởng lợi khoản tiền công. Xét lời khai nhận của bị cáo phù hợp với vật chứng thu giữ, Kết luận giám định đối với vật chứng là 20 viên nén, loại chất Methamphetamine và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Trên cơ sở đó đã đủ căn cứ kết luận bị cáo Vàng Phá L đã phạm vào tội: Vận chuyển trái phép chất ma tuý theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 250 Bộ luật hình sự. Như quan điểm luận tội của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sốp Cộp tại phiên tòa là có căn cứ, đúng pháp luật.

Ti Điều 250 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định:

1. Người nào vận chuyển trái phép chất ma tuý mà không nhằm mục đích sản xuất, mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

c) Heroine, Cocaine,Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR- 11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.".

[3] Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội bởi tội phạm bị cáo thực hiện đã xâm phạm đến lĩnh vực độc quyền thống nhất quyền quản lý nhà nước về các chất ma tuý. Cụ thể hành vi vận chuyển trái phép chất ma tuý nhằm hưởng lợi về vật chất của bị cáo là hành vi tiếp tay cho loại tội phạm khác như mua bán, tàng trữ trái phép chất ma tuý trong xã hội gia tăng, gây mất trật tự an ninh ở địa phương đặc biệt là tệ nạn nghiện hút sử dụng trái phép chất ma túy trong bối cảnh hiện nay. Tội phạm bị cáo thực hiện thuộc trường hợp nghiêm trọng, do đó cần phải áp dụng một hình phạt nghiêm khắc với mức phạt tù từ 02 đến 07 năm, cách ly các bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian tương xứng với tích chất mức độ hành vi phạm tội, nhằm trừng trị, răn đe, giáo dục và cải tạo bị cáo thành người công dân có ý thức chấp hành pháp luật.

[4] Tình tiết tăng nặng: Không.

[5] Tình tiết giảm nhẹ: Xét quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội đã thực hiện, nên được áp dụng là một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[6] Bị cáo đang bị tạm giam, cần tiếp tục giam giữ bị cáo trong hạn 45 ngày, kể từ ngày tuyên án theo quy định tại khoản 1, 3 Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự.

[7] Đối với hình phạt bổ sung được quy định tại khoản 5 Điều 250 Bộ luật hình sự. Căn cứ vào kết quả xác minh xác định bị cáo không có khả năng thi hành nên Hội đồng xét xử không áp dụng.

[8] Xử lý vật chứng:

- Đối với 0,88 gam Methamphetamine (Số còn lại sau khi trích rút 0,87gam Methamphetamine gửi giám định) là chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo. Cần áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; để tuyên tịch thu tiêu hủy.

- Đối với chiếc xe mô tô BKS:27B1 - 600.73. Kết quả điều tra xác định chiếc xe thuộc quyền sở hữu hợp pháp của vợ chồng ông Vàng A D + bà Thào Thị C. Việc ông D cho bị cáo mượn xe hoàn toàn không biết bị cáo sử dụng làm phương tiện phạm tội. Do vậy cơ quan Điều tra Công an huyện Sốp Cộp đã giao trả lại cho bà Thào Thị C là có căn cứ, theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự.

[9] Đối với nguồn gốc ma túy bị bắt giữ, theo bị cáo khai do vận chuyển thuê cho một người đàn ông dân tộc Thái tại khu vực bản Pú Hồng A, xã Pú Hồng, huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên. Quá trình điều tra do bị cáo không cung cấp được tên, tuổi, địa chỉ và đặc điểm nhận dạng cụ thể của đối tượng. Nên cơ quan Điều tra không có cơ sở để điều tra và xử lý.

[10] Đối với khoản tiền công vận chuyển trái phép chất ma túy 250.000 đồng theo bị cáo khai do người đàn ông dân tộc Thái hứa trả. Tuy nhiên hành vi phạm tội của bị cáo đã bị phát hiện bắt giữ trước khi vận chuyển ma túy tới điểm hẹn để nhận tiền công. Do vậy không đặt ra vấn đề xem xét, xử lý.

[11] Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm, theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

[12] Bị cáo được quyền kháng cáo bản án, theo quy định tại các Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự;

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Về tội danh và hình phạt:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 250; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015;

- Tuyên bố bị cáo Vàng Phá L phạm tội: Vận chuyển trái phép chất ma tuý.

- Xử phạt bị cáo Vàng Phá L 32 (Ba mươi hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt được tính từ 01/10/2019 (Ngày bắt giữ bị cáo).

Áp dụng khoản 1, 3 Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự;

- Tiếp tục tạm giam bị cáo Vàng Phá L trong hạn 45 (Bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án, để đảm bảo biện pháp thi hành án phạt tù.

2. Xử lý vật chứng:

Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự;

- Tuyên tịch thu tiêu huỷ: 01 phong bì thư của Phòng kỹ thuật hình sự Công an Sơn La đã được niêm phong dán kín lại. Một mặt phong bì ghi: " Vật chứng lưu kho vụ Vàng Phá L, sinh năm 1962, trú tại bản P H A, xã P H, huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên về hành vi Vận chuyển trái phép chất ma túy, bắt ngày 01/10/2019, bên trong phong bì có: 01 bì thư niêm phong ban đầu đã bóc mở, 01 mảnh ni lon màu trắng và 01 túi ni lon màu trắng bên trong chứa 10 (Mười) viên nén màu hồng là ma túy, loại chất Methamphetamine có khối lượng 0,88 gam (Không phẩy tám mươi tám gam) ". Mặt sau phong bì được dán kín lại và dán giấy niêm phong vào các mép dán của phong bì, trên dán niêm phong có đầy đủ chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong, điểm chỉ ngón trỏ phải của người bị tạm giữ Vàng Phá L và 02 (Hai) hình dấu tròn đỏ của cơ quan CSĐT Công an huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La.

3. Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

- Buộc bị cáo nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).

4. Quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Báo cho bị cáo biết quyền được kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.


11
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 03/2020/HSST ngày 31/01/2020 về tội vận chuyển trái phép chất ma tuý

Số hiệu:03/2020/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Sốp Cộp - Sơn La
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 31/01/2020
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về