Bản án 03/2020/HS-ST ngày 20/01/2020 về tội đánh bạc

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH GIANG, TỈNH HẢI DƯƠNG

BẢN ÁN 03/2020/HS-ST NGÀY 20/01/2020 VỀ TỘI ĐÁNH BẠC

Ngày 20/01/2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 63/2019/TLST-HS ngày 31/12/2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2019/QĐXXST-HS ngày 07/01/2020, đối với bị cáo:

Nguyễn Thị N, sinh năm 1953 tại Hải Dương; nơi cư trú: Thôn Q, xã Ư, huyện N, tỉnh Hải Dương; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 6/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T và bà Trịnh Thị L; có chồng và 02 con (con lớn sinh năm 1980, con nhỏ sinh năm 1993; tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân: Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 141/QĐ- XPVPHC ngày 25/8/2014, Công an huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương phạt 1.000.000 đồng về hành vi Đánh bạc; đã chấp hành xong ngày 28/8/2014;

Bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, theo Lệnh Cấm đi khỏi nơi cư trú của Tòa án nhân dân huyện Ninh Giang; có mặt.

- Người tham gia tố tụng khác:

1. NLC1;

2. NLC2;

3. NLC3.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 15 giờ ngày 10/11/2019, tại trước cửa quán bán hàng nhà NLC1, ở thôn Quảng Nội, xã Quyết Thắng (nay là xã Ứng Hòe), huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương, Nguyễn Thị N đang chuẩn bị 01 bút màu đen, hai tờ vé xổ số kiến thiết Hải Dương, với mục đích ghi bán số lô, số đề cho các đối tượng đánh bạc sát phạt nhau bằng tiền thì có NLC2 và Nguyễn Tuấn A đến bảo N bán cho số lô, số đề. N đồng ý và lấy bút và tờ vé xổ số kiến thiết Hải Dương để ghi số lô, số đề. Tuấn A bảo N ghi cho các số lô: 32, 23, 76, 67, mỗi số 25 điểm (mỗi điểm tương đương 20.000 đồng), với số tiền 2.000.000 đồng; số đề đầu 3, đầu 7 gồm các số: 30, 31, 32, 33, 34, 35, 36, 37, 38, 39, 70, 71, 72, 73, 74, 75, 76, 77, 78, 79 mỗi số 15.000 đồng, với số tiền 300.000 đồng. Tổng số tiền Nguyễn Tuấn A mua số lô, số đề của N là 2.300.000 đồng. NLC2 bảo N ghi cho các số lô 92, 95, mỗi số 50 điểm (mỗi điểm tương đương 20.000 đồng), với số tiền 2.000.000 đồng; số đề đầu 9, đuôi 9 gồm các số: 90, 91, 92, 93, 94, 95, 96, 97, 98, 99, 09, 19, 29, 39, 49, 59, 69, 79, 89, 99, mỗi số 50.000 đồng, với số tiền 1.000.000 đồng. Tổng số tiền NLC2 mua số lô, số đề của N là 3.000.000 đồng. Tổng số tiền Nguyễn Tuấn A, NLC2 mua số lô, số đề của N là 5.300.000 đồng.

Hình thức đánh số lô, số đề dựa trên kết quả xổ số kiến thiết miền Bắc mở thưởng vào hồi 18 giờ 15 phút ngày 10/11/2019. Người chơi trúng “lô” nếu số tự nhiên đã mua trùng với hai số cuối của các giải từ giải đặc biệt đến giải bảy, sẽ được nhận số tiền 70.000 đồng/ 01 điểm “lô”, đồng thời nhân với các số đã trúng của tất cả các giải thưởng. Người chơi trúng “đề” nếu số tự nhiên đã mua trùng với hai số cuối của giải đặc biệt, sẽ được hưởng số tiền gấp 70 lần số tiền người chơi bỏ ra. Đến khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày, sau khi N sử dụng bút, tờ vé xổ số kiến thiết Hải Dương để ghi số lô, số đề cho Nguyễn Tuấn A, NLC2 xong; Tuấn A đưa cho N số tiền 2.300.000 đồng, đồng thời N đưa lại cho Tuấn A tờ giấy xổ số mặt sau ghi các số tự nhiên đề bằng mực bút đen (cáp đề) và NLC2 đưa cho N số tiền 3.000.000 đồng, N đưa lại cho NLC2 tờ giấy xổ số mặt sau ghi các số tự nhiên bằng mực bút đen (cáp đề) thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Ninh Giang bắt quả tang, thu giữ vật chứng, gồm: Thu giữ của Nguyễn Thị N số tiền 5.300.000 đồng, 01 bút màu đen, nhãn hiệu Biaodian GP777; thu giữ trên người Nguyễn Tuấn A 01 tờ xổ số mặt sau ghi các số tự nhiên; thu giữ của NLC2 01 tờ xổ số mặt sau ghi các số tự nhiên, 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, biển số 34E1-264.94. Quá trình làm việc với Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Ninh Giang lợi dụng sơ hở, Nguyễn Tuấn A đã bỏ trốn.

Quá trình điều tra, Nguyễn Thị N đã thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của mình, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người làm chứng, vật chứng thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Tại bản Cáo trạng số 03/CT-VKS-NG ngày 30/12/2019, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương để xét xử đối với Nguyễn Thị N về tội Đánh bạc, theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị N khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, công nhận quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Giang là đúng, xin giảm nhẹ hình phạt và được cải tạo tại địa phương.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Giang giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Về tội danh: Tuyên bố bị cáo bị cáo Nguyễn Thị N phạm tội Đánh bạc; về hình phạt: Áp dụng khoản 1 điều 321 Bộ luật hình sự, điểm i, s khoản 1, 2 điều 51, điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị N từ 06 tháng đến 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 tháng đến 18 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã Ứng Hòe, huyện Ninh Giang và gia đình bị cáo giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách; về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 3 điều 321 Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo 10.000.000 đồng sung quỹ nhà nước; về vật chứng: Áp dụng khoản 1, 2 điều 47 Bộ luật Hình sự, khoản 2 điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 bút màu đen, nhãn hiệu Biaodian GP777, là đồ vật không còn giá trị sử dụng, bị cáo sử dụng vào việc phạm tội; tiếp tục quản lý trong hồ sơ đối với “02 cáp đề”; về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật TTHS, điểm đ khoản 1 điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội bị cáo là người cao tuổi nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo không tranh luận. Nói lời sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt và được cải tạo tại địa phương.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Ninh Giang, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Ninh Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về chứng cứ xác định bị cáo có tội: Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang cũng như nội dung các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 10/11/2019, tại trước cửa quán bán hàng nhà NLC1, ở Thôn Q, xã Ư, huyện N, tỉnh Hải Dương, Nguyễn Thị N có hành vi đánh bạc sát phạt bằng tiền với NLC2 và Nguyễn Tuấn A, với hình thức bán số lô, số đề thì bị phát hiện bắt quả tang, thu giữ số tiền sử dụng vào việc đánh bạc là 5.300.000 đồng cùng vật chứng khác. Xét thấy, bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi đánh bạc trái phép là vi phạm pháp luật, xâm phạm trật tự công cộng, gây mất trật tự trị an tại địa phương, nhưng vì mục đích tư lợi, muốn có tiền nhanh chóng bị cáo vẫn cố ý phạm tội. Vì vậy, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về tội Đánh bạc quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Giang truy tố bị cáo ra trước tòa để xét xử với tội danh trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo phạm tội do cơ hội, mức sát phạt thấp, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo có anh ruột là liệt sĩ, nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử sẽ xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi quyết định hình phạt. Về nhân thân: Bị cáo có một lần bị xử phạt vi phạm hành chính, đã được xóa và đủ thời gian được coi như chưa bị xử lý hành chính. Căn cứ quy định của pháp luật, sau khi xem xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy: Bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng, không có tình tiết tăng nặng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng có thể cho cải tạo tại địa phương tạo điều kiện giúp đỡ bị cáo sửa chữa sai lầm và cũng có tác dụng giáo dục thành công dân tốt, đồng thời bảo đảm mục đích đấu tranh, phòng ngừa tội phạm.

[4] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo phạm tội vì mục đích tư lợi, nên cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị là phù hợp với quy định tại khoản 3 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.

[5] Về xử lý vật chứng: Số tiền 5.300.000 đồng bị cáo dùng vào việc phạm tội cần tịch thu sung quỹ Nhà nước; 01 bút màu đen, nhãn hiệu Biaodian GP777 bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, không còn giá trị sử dụng cần tịch thu cho tiêu hủy; lưu 02 cáp đề thu giữ của Nguyễn Tuấn A, NLC2 làm tài liệu trong hồ sơ vụ án. Đối với xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, biển số 34E1-264.94 là tài sản hợp pháp của NLC3; khi Sơn sử dụng đi ghi số lô, số đề anh Nam không biết. Ngày 13/11/2019 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Ninh Giang đã trả cho anh Nam là phù hợp quy định.

[6] Về án phí: Bị cáo là người cao tuổi bị kết án, nên được miễn nộp tiền án phí theo quy định.

Đối với NLC2 mua số lô, số đề của Nguyễn Thị N, với số tiền 3.000.000 đồng, chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm. Công an huyện Ninh Giang đã quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 07/QĐ-XPHC ngày 03/12/2019 đối với Sơn là phù hợp.

Người tự khai là Nguyễn Tuấn A, sinh năm 1997; nơi cư trú: Thôn 1, xã Tân Hương, huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương là người mua số lô, số đề của Nguyễn Thị N với số tiền 2.300.000 đồng, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Ninh Giang đã tiến hành xác minh nhưng không có tên người có địa chỉ như trên, nên không có căn cứ để xử lý.

Đối với NLC1 là người cho Nguyễn Thị N ngồi nhờ trước cửa nhà, không biết bị cáo N thực hiện hành vi phạm tội nên không có căn cứ xử lý.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

 Căn cứ vào: Khoản 1 điều 321 Bộ luật hình sự, điểm i, s khoản 1, 2 điều 51, điều 65 của Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị N phạm tội “Đánh bạc”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị N 06 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Nguyễn Thị N cho Ủy ban nhân dân xã Ứng Hòe, huyện Ninh Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo vắng mặt tại nơi cư trú, thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 3 Điều 321 của Bộ luật Hình sự. Phạt bị cáo Nguyễn Thị N 10.000.000 triệu đồng sung quỹ Nhà nước.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 1, 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 5.300.000 đồng bị cáo sử dụng vào việc phạm tội. Tịch thu tiêu hủy 01 bút màu đen, nhãn hiệu Biaodian GP777 là công cụ sử dụng vào việc phạm tội (vật chứng có đặc điểm ghi trong Biên bản giao nhận vật chứng ngày 17/01/2020 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Ninh Giang và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ninh Giang).

Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Nguyễn Thị N được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 20/01/2020.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

115
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 03/2020/HS-ST ngày 20/01/2020 về tội đánh bạc

Số hiệu:03/2020/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Ninh Giang - Hải Dương
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:20/01/2020
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về