Bản án 03/2019/HS-ST ngày 11/01/2019 về tội đánh bạc

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

BẢN ÁN 03/2019/HS-ST NGÀY 11/01/2019 VỀ TỘI ĐÁNH BẠC

Ngày 11 tháng 01 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 104/2018/TLST-HS ngày 28 tháng 12 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2019/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 01 năm 2019 đối với các bị cáo:

1. Phạm V S, sinh ngày 02 tháng 7 năm 1991 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Thôn T S, xã H T, huyện An Dương, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm V T (đã chết) và bà Lê Thị M, chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 01/12/2018 đến ngày 04/12/2018 được áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.

2. Phạm M Đ T, sinh ngày 20 tháng 10 năm 1994 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Thôn K, xã Q, huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm V L và bà Mai Thị N, chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 01/12/2018 đến ngày 04/12/2018 được áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.

3. Trần V N, sinh ngày 20 tháng 4 năm 1995 tại Hà Giang. Nơi cư trú: Thôn V, xã V, huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: Lớp 5/12; dân tộc: Dao; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần V S và bà Bàn Thị Q, chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 01/12/2018 đến ngày 04/12/2018 được áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 22 giờ ngày 30/11/2018, Công an quận Ngô Quyền bắt quả tang tại số nhà 6 ngõ 103 tập thể M D, đường N, phường Máy Chai, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng 03 đối tượng gồm: Phạm V S, Phạm M Đ T và Trần V N đang đánh bạc thắng thua bằng tiền dưới hình thức đánh xóc đĩa. Vật chứng thu giữ tại chiếu bạc gồm: 01 bát sứ màu trắng đường kính 10cm, 01 đĩa sứ màu trắng đường kính 17cm, 04 quân vị hình tròn bằng giấy bìa có đường kính 1,5cm, một mặt màu trắng đục, một mặt màu vàng và số tiền 6.540.000 đồng.

Quá trình điều tra các đối tượng, khai nhận: Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 30/11/2018, sau khi ăn tối xong, Phạm V S, Phạm M Đ T và Trần V N về nhà trọ của Năm ở số 6 ngõ 103 tập thể M D, đường N, phường Máy Chai, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng chơi. Trong khi ngồi uống nước tại tầng 2, cả nhóm thấy dưới gầm giường có bộ bát đĩa sứ trắng và 04 quân vị nên nảy sinh ý định cùng nhau đánh bạc thắng thua bằng tiền dưới hình thức xóc đĩa. Cả nhóm thống nhất cách chơi sẽ chia làm 2 cửa chẵn và lẻ. Sự là người cầm cái, Năm và Thi sẽ đặt tiền vào hai cửa chẵn, lẻ. Người cầm cái cho 04 quân vị vào đĩa rồi úp bát lên trên và xóc, khi mở bát ra nếu 04 quân vị trên đĩa cùng một màu với nhau hoặc có 02 cặp quân vị cùng màu với nhau thì là chẵn, người chơi đặt tiền tại cửa chẵn sẽ thắng, còn người đặt tiền ở cửa lẻ bị thua; nếu có 03 quân vị cùng màu và 01 quân vị khác màu thì là lẻ, người chơi đặt tiền tại cửa lẻ sẽ thắng, người chơi đặt tiền ở cửa chẵn bị thua; trong mỗi ván bạc, những người chơi có thể đặt tiền cùng một cửa với nhau hoặc đặt tiền tại các cửa khác nhau, nếu đặt không đúng kết quả khi mở bát sẽ thua. Sự phải trả tiền cho người thắng bằng tương ứng số tiền người đó đã đặt và được thu tiền của người thua. Người chơi đặt cửa thấp nhất là 10.000 đồng, cao nhất là 100.000 đồng. Thống nhất xong cả nhóm bắt đầu đánh bạc. Số tiền các đối tượng dùng để đánh bạc: Phạm V S có 1.540.000 đồng, khi bị bắt đang thắng 500.000 đồng; Phạm M Đ T có 3.700.000 đồng, khi bị bắt đang thua 200.000 đồng; Trần V N có 1.300.000 đồng, khi bị bắt đang thua 300.000 đồng. Tổng số tiền của 03 người dùng đánh bạc là 6.540.000 đồng. Cả nhóm chơi đến 22 giờ cùng ngày thì bị cơ quan Công an bắt quả tang cùng vật chứng.

Lời khai nhận tội của Phạm V S, Phạm M Đ T và Trần V N phù hợp với nhau, phù hợp biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người làm chứng và vật chứng.

Vật chứng: 01 bát sứ màu trắng đường kính 10cm; 01 đĩa sứ màu trắng đường kính 17cm; 04 quân vị hình tròn bằng giấy bìa có đường kính 1,5cm, một mặt màu trắng đục, một mặt màu vàng và 6.540.000 đồng, chuyển Chi cục thi hành án dân sự quận Ngô Quyền quản lý.

Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn số 01/QĐ-VKS ngày 27/12/2018 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng truy tố các bị cáo Phạm V S, Phạm M Đ T và Trần V N đều về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà:

Các bị cáo Phạm V S, Phạm M Đ T và Trần V N khai nhận hành vi đã thực hiện phù hợp với nội dung Quyết định truy tố của Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng đã truy tố.

Kiểm sát viên giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo như nội dung quyết định truy tố. Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ của các bị cáo, Kiểm sát viên Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng đề nghị:

- Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phạm V S với mức án từ 15 tháng đến 18 tháng Cải tạo không giam giữ về tội “Đánh bạc”;

Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phạm M Đ T với mức án từ 12 tháng đến 15 tháng Cải tạo không giam giữ về tội “Đánh bạc”;

Áp dụng khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự; điểm i, s khoản 1 Điều 51, khoản 2; Điều 36; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần V N với mức án từ 09 tháng đến 12 tháng Cải tạo không giam giữ về tội “Đánh bạc”.

- Phạt bị cáo Phạm V S, Phạm M Đ T mỗi bị cáo 10.000.000 đồng để sung Công quỹ Nhà nước; Không phạt bổ sung đối với bị cáo Trần V N.

- Xử lý vật chứng của vụ án, buộc các bị cáo phải nộp án phí và được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Sau khi kết thúc phần tranh luận, bị cáo nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt, tạo điều kiện để các bị cáo được hưởng sự khoan hồng của pháp luật và được cải tạo ngoài xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa nhận định như sau:

- Về tố tụng:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Ngô Quyền, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

- Về tội danh:

[2] Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Hồi 22 giờ ngày 30/11/2018, tại số nhà 6 ngõ 103 tập thể M D, đường N, phường Máy Chai, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng, Phạm V S, Phạm M Đ T và Trần V N đã có hành vi đánh bạc trái phép được thua bằng tiền dưới hình thức xóc đĩa. Tổng số tiền các bị cáo tham gia đánh bạc tại chiếu bạc là 6.540.000 đồng. Như vậy, hành vi của các bị cáo Phạm V S, Phạm M Đ T và Trần V N đủ yếu tố cấu thành đồng phạm tội "Đánh bạc" theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.

[3] Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng truy tố đối với các bị cáo về tội danh cũng như điều luật áp dụng là có cơ sở và đúng với quy định của pháp luật.

- Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội:

[4] Tính chất vụ án là ít nghiêm trọng, hành vi của các bị cáo đã xâm phạm đến trật tự công cộng, làm mất trật tự an toàn xã hội, gây dư luận xấu trong cộng đồng dân cư nên cần xử lý nghiêm để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[5] Các bị cáo cùng nhau thực hiện tội phạm nên phạm tội thuộc trường hợp đồng phạm theo quy định tại Điều 17 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, khi quyết định hình phạt cần xem xét vai trò của từng bị cáo trong đồng phạm và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với từng bị cáo để phân hóa tội phạm cũng như áp dụng một mức hình phạt tương xứng theo quy định tại Điều 58 của Bộ luật Hình sự.

- Xét vai trò, nhân thân đối với các bị cáo:

[6] Bị cáo S tham gia với vai trò chính, là người trực tiếp xóc cái, số tiền đánh bạc là 1.540.000 đồng nên S phải chịu hình phạt cao nhất. Bị cáo T khi tham gia đánh bạc với số tiền là 3.700.000 đồng nên phải chịu hình phạt cao hơn N nhưng thấp hơn so với S. Bị cáo N tham gia đánh bạc với số tiền ít nhất 1.300.000 đồng nên chỉ phải chịu mức hình phạt thấp nhất so với các bị cáo trong vụ án.

- Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và lượng hình đối với các bị cáo:

[7] Các bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

[8] Nhân thân các bị cáo S, T, N đều không có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; do đó các bị cáo đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đều thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị cáo N là người dân tộc thiểu số, nhận thức hạn chế; bị cáo S có bác ruột là liệt sỹ, ông bà ngoại được Nhà nước tặng thưởng Huân huy chương kháng chiến; bị cáo T có thời gian tham gia quân ngũ, có bố đẻ được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến. Do vậy, các bị cáo đều được áp dụng khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[9] Các bị cáo S, T, N đều có nơi cư trú rõ ràng, đều được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xét hành vi của các bị cáo không còn gây nguy hiểm cho xã hội, nên không nhất thiết phải áp dụng hình phạt tù giam mà chỉ cần áp dụng hình phạt tương thích cải tạo ngoài xã hội, đồng thời giao các bị cáo về nơi cư trú giám sát giáo dục, khẳng định tính khoan hồng của pháp luật. Vì vậy, cho các bị cáo S, T, N được hưởng hình phạt Cải tạo không giam giữ theo quy định tại Điều 36 Bộ luật Hình sự. Đối với 01 ngày tạm giữ của các bị cáo tại cơ quan điều tra được chuyển đổi thành 03 ngày Cải tạo không giam giữ để trừ vào thời gian phải chấp hành.

- Về việc khấu trừ thu nhập:

[10] Xét các bị cáo S, T, N không có thu nhập ổn định nên được miễn khấu trừ một phần thu nhập theo khoản 3 Điều 36 Bộ luật Hình sự.

- Về hình phạt bổ sung:

[11] Ngoài hình phạt chính cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo Phạm V S, Phạm M Đ T. Phạt mỗi bị cáo 10.000.000 đồng để sung công quỹ Nhà nước theo quy định tại khoản 3 Điều 321 của Bộ luật Hình sự; không phạt bổ sung đối với bị cáo Trần V N.

- Về xử lý vật chứng:

[12] Cần tịch thu tiêu hủy 01 bát sứ màu trắng, 01 đĩa sứ màu trắng, 04 quân vị hình tròn bằng giấy bìa là dụng cụ các bị cáo sử dụng để đánh bạc. Tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 6.540.000 đồng là tiền các bị cáo dùng để tham gia đánh bạc đã thu được từ các bị cáo khi tham gia đánh bạc, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Về án phí:

[13] Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc các bị cáo Phạm V S, Phạm M Đ T, Trần V N mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ vào khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Phạm V S 15 (mười lăm) tháng Cải tạo không giam giữ về tội “Đánh bạc”. Trừ cho bị cáo 03 ngày tạm giữ tại Cơ quan điều tra từ ngày 01/12/2018 đến ngày 04/12/2018 thành 09 ngày Cải tạo không giam giữ.

Thời hạn Cải tạo không giam giữ tính từ ngày giao Ủy ban nhân dân xã H T, huyện An Dương, thành phố Hải Phòng được giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.

- Căn cứ vào khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Phạm M Đ T 12 (mười hai) tháng Cải tạo không giam giữ về tội “Đánh bạc”. Trừ cho bị cáo 03 ngày tạm giữ tại Cơ quan điều tra từ ngày 01/12/2018 đến ngày 04/12/2018 thành 09 ngày Cải tạo không giam giữ.

Thời hạn Cải tạo không giam giữ tính từ ngày giao Ủy ban nhân dân xã Q, huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng được giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Trần V N 09 (chín) tháng Cải tạo không giam giữ về tội “Đánh bạc”. Trừ cho bị cáo 03 ngày tạm giữ tại Cơ quan điều tra từ ngày 01/12/2018 đến ngày 04/12/2018 thành 09 ngày Cải tạo không giam giữ thành 09 ngày Cải tạo không giam giữ.

Thời hạn Cải tạo không giam giữ tính từ ngày giao Ủy ban nhân dân xã V, huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang được giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.

- Về hình phạt bổ sung: Phạt các bị cáo Phạm V S, Phạm M Đ T mỗi bị cáo phải nộp 10.000.000 (mười triệu) đồng để sung công quỹ Nhà nước.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, nếu các bị cáo Phạm V S, Phạm M Đ T chậm thi hành khoản tiền trên thì phải trả lãi đối với số tiền chậm thi hành theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời gian chậm thi hành tại thời điểm thanh toán.

- Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên: Tịch thu tiêu hủy 01 bát sứ màu trắng đường kính 10cm; 01 đĩa sứ màu trắng đường kính 17cm; 04 quân vị hình tròn bằng giấy bìa có đường kính 1,5cm, một mặt màu trắng đục, một mặt màu vàng; tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền là 6.540.000 (sáu triệu năm trăm bốn mươi nghìn) đồng theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 28 tháng 12 năm 2018 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.

- Về án phí: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc các bị cáo Phạm V S, Phạm M Đ T, Trần V N mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành dân sự, người phải thi hành dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

- Quyền kháng cáo đối với bản án: Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.


81
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 03/2019/HS-ST ngày 11/01/2019 về tội đánh bạc

Số hiệu:03/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Quận Ngô Quyền - Hải Phòng
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 11/01/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về