Bản án 03/2019/HNGĐ-ST ngày 21/03/2019 về xin ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM NÔNG, TỈNH ĐỒNG THÁP

BẢN ÁN 03/2019/HNGĐ-ST NGÀY 21/03/2019 VỀ XIN LY HÔN

Vào ngày 21/3/2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tam Nông, mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 34/2019/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 02 năm 2018, về việc tranh chấp “Xin ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2019/QĐXXST-HNGĐ, ngày 07 tháng 3 năm 2019, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Đặng Thị Bích T, sinh năm 1966. Địa chỉ: ấp K, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1970. Địa chỉ: ấp K, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa, bị đơn có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện ngày 18/12/2018; biên bản hòa giải ngày 28/02/2019 và tại phiên toà bà Đặng Thị Bích T trình bày: Vào năm 1989 bà và ông S kết hôn với nhau nhưng không có đăng ký kết hôn theo quy định. Sau khi kết hôn vợ chồng bà chung sống rất hạnh phúc và có sinh được hai con chung tên Nguyễn Văn H, sinh năm 1990 và Nguyễn Cao K, sinh năm 1999 hiện nay đã trưởng thành, đã lập gia đình riêng và tự lao động tạo thu nhập nuôi sống bản thân. Đến tháng 02/2018, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, bà và ông S đã ly thân với nhau từ năm 2018 cho đến nay.

Nay bà thấy tình cảm giữa bà với ông S không còn nên yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Văn S.

Về con chung: Trong quá trình chung sống vợ chồng có sinh được hai con chung tên Nguyễn Văn H, sinh năm 1990 và Nguyễn Cao K, sinh năm 1999 hiện nay đã trưởng thành, đã lập gia đình riêng và tự lao động tạo thu nhập nuôi sống bản thân nên không yêu cầu xem xét giải quyết.

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ chung: Không có nợ ai và cũng không có ai nợ lại vợ chồng nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngoài ra, không có yêu cầu gì khác.

Tại tờ tường trình ngày 19/02/2019; biên bản hòa giải ngày28/02/2019 ông Nguyễn Văn S trình bày: Thừa nhận Vào năm 1989 ông và bà T kết hôn với nhau nhưng không có đăng ký kết hôn theo quy định. Sau khi kết hôn vợ chồng ông chung sống rất hạnh phúc và có sinh được hai con chung tên Nguyễn Văn H, sinh năm 1990 và Nguyễn Cao K, sinh năm 1999 hiện nay đã trưởng thành, đã lập gia đình riêng và tự lao động tạo thu nhập nuôi sống bản thân. Đến tháng 02/2018 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, nên vợ chồng ông đã ly thân với nhau từ năm 2018 cho đến nay.

Nay bà T yêu cầu được ly hôn với ông, ông đồng ý.

Về con chung: Trong quá trình chung sống vợ chồng có sinh được hai con chung tên Nguyễn Văn H, sinh năm 1990 và Nguyễn Cao K, sinh năm 1999 hiện nay đã trưởng thành, đã lập gia đình riêng và tự lao động tạo thu nhập nuôi sống bản thân nên không yêu cầu xem xét giải quyết.

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ chung: Không có nợ ai và cũng không có ai nợ lại vợ chồng nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngoài ra, không có yêu cầu gì khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử xét thấy:

[1] Về hôn nhân: Hôn nhân giữa bà Đặng Thị Bích T với ông Nguyễn Văn S là hoàn toàn tự nguyện và thực tế đã xảy ra, nhưng ông, bà không có đăng ký kết hôn theo luật định nên đã vi phạm vào Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình.

Tại khoản 1 Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:

Việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo quy định của Luật này và pháp luật về hộ tịch.

Việc kết hôn không được đăng ký theo quy định tại khoản này thì không có giá trị pháp lý.

Do đó nghĩ nên không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Đặng Thị Bích T với ông Nguyễn Văn S là phù hợp với Điều 9, Điều 14 Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam.

[2] Về con chung: Trong thời gian chung sống bà T và ông S có sinh được hai con chung tên Nguyễn Văn H, sinh năm 1990 và Nguyễn Cao K, sinh năm 1999 hiện nay đã trưởng thành có khả năng lao động tự tạo thu nhập nuôi sống bản thân. Tại phiên toà, bà T cho rằng hai con đã trưởng thành, đã lập gia đình riêng và tự lao động tạo thu nhập nuôi sống bản thân nên không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết. Tại tờ tường trình ngày 19/02/2019 và tại biên bản hòa giải ngày 28/02/2019 ông S cũng trình bày, hai con chung tên Nguyễn Văn H, sinh năm 1990 và Nguyễn Cao K, sinh năm 1999 hiện nay đã trưởng thành, đã lập gia đình riêng và tự lao động tạo thu nhập nuôi sống bản thân, không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[3] Về tài sản chung và nợ chung: Trong quá trình thu thập chứng cứ và tại phiên tòa bà T trình bày: Về tài sản chung bà và ông S tự thỏa thuận giải quyết, không yêu cầu Tòa án giải quyết, tại tờ tường trình ngày 19/02/2019 và tại biên bản hòa giải ngày 28/02/2019 ông S cũng trình bày: Về tài sản chung ông với bà T tự thỏa thuận giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[4] Về nợ chung: Trong quá trình thu thập chứng cứ và tại phiên tòa bà T và ông S trình bày: Không có nợ ai và cũng không có ai nợ lại vợ chồng nên không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Tại phiên tòa, ông S có đơn xin xét xử vắng mặt, nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông S là phù hợp và đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ các Điều 9, 14, 81, 82 và 83 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 147, khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án tuyên xử:

1/ Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa Đặng Thị Bích T với ông Nguyễn Văn S.

2/ Về án phí:

Bà Đặng Thị Bích T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà bà T đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0005614 ngày 19/02/2019, tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tam Nông.

Báo cho nguyên đơn biết, có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án hôm nay. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

114
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 03/2019/HNGĐ-ST ngày 21/03/2019 về xin ly hôn

Số hiệu:03/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Tam Nông - Đồng Tháp
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:21/03/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về