Bản án 03/2019/DS-ST ngày 25/04/2019 về ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUYÊN HOÁ, TỈNH QUẢNG BÌNH

BẢN ÁN 03/2019/DS-ST NGÀY 25/04/2019 VỀ LY HÔN

Trong ngày 25 tháng 4 năm 2019, tại Trụ sở Toàán nhân dân huyện Tuyên Hoá, tỉnh Quảng Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 94/2018/TLST - HNGĐ ngày 10 tháng 12 năm 2018 về việc ly hôn. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2019/QĐXXST-DS ngày 25 tháng 3 năm 2019 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị LêThị Q, sinh năm 1983

Địa chỉ: Thôn H, xãN, huyện T, tỉnh Quảng Bình “có mặt”

Bị đơn: Anh Nguyễn ChíT, sinh năm 1985

Địa chỉ: Thôn H, xãN, huyện T, tỉnh Quảng Bình  “vắng mặt”

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn xin ly hôn ngày 07/11/2018, tại bản tự khai ngày 17/01/2019 vàtại phiên toàchị LêThị Q trình bày:

Chị vàanh Nguyễn ChíT tìm hiểu hoàn toàn tự nguyện không bị ai ép buộc, vợ chồng kết hôn vào ngày 22/4/2010, đăng kýkết hôn tại UBND xãN. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống với nhau tại thôn Thôn H, xãN, huyện T, tỉnh Quảng Bình. Bước đầu sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến tháng 01 năm 2016 thì xảy ra mâu thuẫn. Lýdo mâu thuẫn vìkhông hợp tính nhau, không cùng chung quan điểm sống, vợ chồng thiếu quan tâm đến nhau nên thường xuyên xảy ra cãi nhau, mặc dù được hai bên nội ngoại nhiều lần hòa giải, góp ý nhưng vợ chồng vẫn không khắc phục được mâu thuẫn màngày càng trầm trọng hơn nên vợ chồng sống ly thân từ cuối năm 2016 cho đến nay. Hiện nay tình  cảm vợ chồng thực sự không  còn,  chị có nguyện vọng ly hôn anh Nguyễn ChíT để hai bên ổn định cuộc sống mới.

Về con chung của vợ chồng: Chị vàanh Nguyễn ChíT có với nhau một con chung làNguyễn  Thị Hoài  T, sinh ngày  01/8/2011. Sau khi ly hôn  chị có nguyện vọng được nuôi con vàyêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.500.000 đồng.

Về tài sản chung vànợ chung của vợ chồng: Hai bên sẽ tự thỏa thuận về tài sản vànợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai ngày 17/01/2019 anh Nguyễn ChíT trình bày:

Anh và chị LêThị Q tìm hiểu vàkết hôn với nhau hoàn toàn tự nguyện không bị ai ép buộc, vợ chồng đăng ký kết hôn vào năm 2010 tại UBND xãN. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại xãN. Bước đầu chung sống hạnh phúc nhưng được một thời gian thìxảy ra nhiều mâu thuẫn vìkhông hợp tính nhau, không cùng chung quan điểm sống, hai người thiếu quan tâm đến nhau. Vìcông việc nên anh thường xuyên phải xa nhà, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, hiện nay vợ chồng không còn tình cảm nên anh đồng ýly hôn theo yêu cầu của chị Q.

Về con chung của vợ chồng: Hai người cóvới nhau một con chung làNguyễn Thị Hoài T, sinh ngày 01/8/2011. Sau khi ly hôn anh T cónguyện vọng được nuôi con vàkhông yêu cầu chị Q phải cấp dưỡng nuôi con hàng tháng.

Về tài sản chung của vợ chồng: Hai bên tự thỏa thuận phân chia tài sản nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngày 22/01/2019 Tòa án đã tiến hành lấy lời khai của cháu Nguyễn Thị Hoài T, tại biên bản lấy lời khai cháu T trình bày:

Hiện tại cháu đang học lớp 2 tại trường tiểu học N, bản thân cháu không muốn bố mẹ ly hôn nên cháu muốn ở cùng cả bố vàmẹ.

Toà án đã tiến hành giải quyết vụ án vàhoàgiải nhưng không đạt kết quả. Về quan hệ hôn nhân chị LêThị Q vàanh Nguyễn ChíT đều đồng ýly hôn. Về nuôi con chung, Chị LêThị Q có nguyện vọng được nuôi con vàyêu cầu anh Nguyễn ChíT phải cấp dưỡng nuôi  con mỗi tháng 1.500.000 đồng, anh Nguyễn ChíT  cũng có nguyên vọng được nuôi con vàkhông yêu cầu chị Q phải cấp dưỡng tiền nuôi con hàng tháng. Về tài sản chung, hai bên tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toàvàkết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

 [1] Về quan hệ hôn nhân: Chị LêThị Q vàanh Nguyễn ChíT kết hôn với nhau hoàn toàn tự nguyện, đăng ký kết hôn hợp pháp vào ngày 22/4/2010 tại UBND xãN. Bước đầu cuộc sống vợ chồng hạnh phúc, đến năm 2016 thì xảy ra mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm, thiếu tin tưởng nhau. Tòa án đã tiến hành hòa giải nhưng không đạt kết quả.

Xét thấy vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2016 cho đến nay nên việc dàn xếp mâu thuẫn là khó khăn, chị Q cónguyện vọng được ly hôn. Anh Nguyễn ChíT nhất trítheo yêu cầu của chị Q làhoàn toàn tự nguyện, tại phiên tòa anh T vắng mặt, vìvậy cần áp dụng khoản 1 Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 207, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự  xử chị LêThị Q ly hôn vắng mặt anh Nguyễn ChíT. 

 [2] Về nuôi con chung của vợ chồng: Vợ chồng cómột con chung làNguyễn Thị Hoài T, sinh ngày 01/8/2011. Chị LêThị Q vàanh Nguyễn ChíT cónguyện vọng được trực tiếp nuôi  con, nguyện vọng của chị Q và anh T đều chính đáng. Ngày 22/01/2019 Tòa án đã tiến hành lấy lời khai của cháu Nguyễn Thị Hoài T nhưng cháu T khai không biết ở với ai vàkhông muốn bố mẹ ly hôn. Xét thấy thời gian chị Q và anh T sống ly thân thìcháu T ở với chị Q nên để đảm bảo việc sinh hoạt vàhọc tập cho cháu cần chấp nhận nguyện vọng của chị Q làphùhợp hơn. Vì vậy áp dụng Điều 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình giao cháu Nguyễn Thị Hoài T cho chị Q trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, anh Nguyễn ChíT có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.500.000 đồng đến khi con đủ 18 tuổi.

 [3] Về tài sản chung của vợ chồng: Vợ chồng tự thỏa thuận phân chia, không yêu cầu Tòa án giải quyết, vìvậy Hội đồng xét xử không xem xét.

 [4] Về án phí: Chị LêThị Q phải chịu án phídân sự sơ thẩm. Anh Nguyễn Chí T phải chịu án phícấp dưỡng nuôi con.

Vìcác lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Về quan hệ hôn nhân: Áp dụng khoản 1 Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, khoản 1 Điều 207, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

Xử chị LêThị Q ly hôn vắng mặt anh Nguyễn ChíT.

2. Về nuôi con chung của vợ chồng: Áp dụng Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình, giao cháu  Nguyễn Thị Hoài  T, sinh ngày 01/8/2011 cho chị LêThị Q trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh Nguyễn ChíT có trách  nhiệm cấp dưỡng nuôi  con mỗi tháng  1.500.000đ (một triệu năm trăm nghìn đồng) kể từ tháng 5 năm 2019 đến khi con đủ 18 tuổi.

Không ai được ngăn cản việc đi lại, chăm sóc con chung, khi cần thiết vìlợi ích của con thìmột trong hai bên cóquyền làm đơn yêu cầu Toà án thay đổi người trực tiếp nuôi con.

3. Về chia tài sản chung vànợ chung của vợ chồng: Hai vợ chồng tự thỏa thuận không yêu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

4. Về án phí: Chị LêThị Q phải chịu 300.000 đồng án phídân sự sơ thẩm. Chị Lê Thị Q đã nộp tạm ứng án  phídân  sự sơ thẩm 300.000 đồng theo biên  lai số 0003676 ngày 10/12/2018 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuyên Hoá nay được khấu trừ, chị Q đã nộp đủ án phí.

Án phícấp dưỡng nuôi con: Anh Nguyễn ChíT phải chịu 300.000 đồng.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt nguyên đơn, vắng mặt bị đơn. Tuyên bố nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 25/4/2019). Đối với bị đơn vắng mặt thời hạn trên tính từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày niêm yết bản án nơi cư trú.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

224
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 03/2019/DS-ST ngày 25/04/2019 về ly hôn

Số hiệu:03/2019/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Tuyên Hóa - Quảng Bình
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:25/04/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về