Bản án 03/2018/HS-ST ngày 25/01/2018 về tội cướp tài sản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TL, TỈNH HN

BẢN ÁN 03/2018/HS-ST NGÀY 25/01/2018 VỀ TỘI CƯỚP TÀI SẢN

Ngày 25 tháng 01 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện TL, tỉnh HN, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thâm thụ lý số 82/2017/TLST-HS ngày 19 tháng 12 năm 2017, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2018/QĐXXST- HS ngày 11/01/2018, đối với bị cáo:

* Nguyễn Thanh T1 - sinh năm 1969; nơi ĐKHKTT: Thôn T2, xã LC, huyện TL, tỉnh HN; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn A1 và bà Nguyễn Thị N1 (đều đã chết); có vợ Nguyễn Thị T3 và 03 con, lớn nhất sinh năm 1999, nhỏ nhất sinh năm 2003; tiền án: Không, tiền sự: Ngày 12/12/2016, bị Công an thành phố PL, tỉnh HN xử phạt vi phạm hành chính về hành vi "Tàng trữ trái phép chất ma túy"; ngày 01/9/2017, bị Tòa án nhân dân huyện TL, tỉnh HN ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Đặc điểm nhân thân: Ngày 10/01/2011, bị Công an thành phố PL, tỉnh HN xử phạt vi phạm hành chính về hành vi "Tàng trữ trái phép chất ma túy", đã được xóa. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 27/9/2017 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh HN, có mặt.

* Bị hại: Chị Dương Thị T4 - sinh năm 1976; nơi ĐKHKTT và nơi ở: Thôn N2, xã LC, huyện TL, tỉnh HN; có đơn xin xét xử vắng mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh: Nguyễn Văn H1 - sinh năm 1976; nơi ĐKHKTT và nơi ở: Thôn N2, xã LC, huyện TL, tỉnh HN; có mặt.

* Người làm chứng:

1. Chị: Trần Thị N3 - sinh năm 1981; nơi ĐKHKTT, chỗ ở: Thôn N2, xã LC, huyện TL, tỉnh HN; vắng mặt,

2. Anh: Hoàng Bảo H2 - sinh năm 1979; nơi ĐKHKTT, chỗ ở: Thôn N2, xã LC, huyện TL, tỉnh HN; vắng mặt,

3. Bà: Nguyễn Thị T3 - sinh năm 1971; nơi ĐKHKTT, chỗ ở: Thôn T2, xã LC, huyện TL, tỉnh HN; có mặt,

4. Anh: Nguyễn Thanh S1 - sinh năm 1984; nơi ĐKHKTT, chỗ ở: Tiểu khu BT, thị trấn BM, huyện BL, tỉnh HN; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Thanh T1 là đối tượng nghiện ma túy. Do sử dụng ma túy đá nên khoảng 23 giờ 30 phút ngày 24/7/2017, T1 bị ảo giác nghĩ có người đuổi đánh mình, T1 đã cầm theo một chiếc đinh ba và một con dao phay chạy từ nhà ra khu vực cây xăng phố Đ1, xã LC, huyện TL, tỉnh HN. Tại đây, thấy có xe ô tô taxi đỗ ở cây xăng, T1 đi đến để thuê xe nhưng không có lái xe; T1 nhờ chị Trần Thị N3 là nhân viên bán xăng gọi hộ xe taxi nhưng chị N3 trả lời không có lái xe. Thấy T1 có biểu hiện không bình thường, chị N3 vào phòng đóng cửa lại. T1 đi loanh quanh phía bên ngoài cây xăng rồi đi sang bên phía đường tàu cạnh Quốc lộ 21A. Lúc này, T1 phát hiện chị Dương Thị T4 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda WaveS BKS 90B1-397.70 đi hướng PL - NĐ đến trước khu vực cây xăng phố Đ1. Khi còn cách khoảng 4-5m, T1 cầm con dao ở tay phải và chiếc đinh ba ở tay trái chạy ra trước đầu xe của chị T4 giơ cao con dao và chiếc đinh ba lên. Thấy vậy, chị T4 hoảng sợ dừng xe lại, rồi vứt xe đổ ra đường và bỏ chạy vào cây xăng. T1 thấy thế dựng xe của chị T4 lên, đề xe máy nổ, một tay cầm dao và đinh ba, một tay T1 điều khiển xe mô tô chạy theo hướng NĐ. Khi đi đến khu vực trước cửa quán Karaoke Quỳnh Anh thuộc thị trấn BM, huyện BL, tỉnh HN, T1 làm rơi con dao nhưng vẫn điều khiển xe đi tiếp. Đi được khoảng 40m đến lối rẽ vào làng Văn Phú, thị trấn BM, huyện BL, tỉnh HN thì xe bị đổ nghiêng về phía giáp đường tàu; T1 bỏ xe và đinh ba lại, chạy bộ quay lại nhặt con dao rồi đi bộ vào quán Karaoke Quỳnh Anh thì gặp anh Nguyễn Thanh S1 là chủ quán. Thấy T1 có biểu hiện không bình thường, tay cầm con dao, anh S1 đã giằng lấy con dao và đuổi T1 ra ngoài thì bị lực lượng Cảnh sát 113 - Công an tỉnh HN cùng Công an xã LC giữ lại và bàn giao cho Công an huyện TL.

* Vật chứng, tài sản thu giữ gồm:

+ 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave S màu sơn đen BKS 90B1- 397.70 đã qua sử dụng;

+ 01 (một) chiếc đinh ba dài 70cm cán bằng tre đầu được gắn ống sắt dài 8cm có hàn 03 đoạn sắt nhọn dài 45cm;

+ 01 (một) con dao (loại dao phay) mũi bằng dài 39cm, phần chuôi bằng gỗ tròn dài 12cm, phần lưỡi dao chỗ rộng nhất là 7,3cm do anh Nguyễn Thanh S1 giao nộp.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 27/2017/KL-ĐGTS ngày 11/8/2017 của Hội đồng định giá tài sản huyện TL kết luận: “Xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave S BKS 90B1-397.70 trị giá 8.000.000đ (Tám triệu đồng)”.

Ngày 03/8/2017, Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh Nguyễn Văn H1 (chồng chị Dương Thị T4) 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave S BKS 90B1-397.70. Anh H1 đã nhận lại xe và không có yêu cầu hay đề nghị gì. Chị Dương Thị T4 không yêu cầu bị cáo bồi thường và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

* Quá trình điều tra còn xác định: Vào khoảng 15 giờ ngày 22/7/2017, T1 cùng với đối tượng Nguyễn Ngọc Đ2, sinh năm 1984, trú tại thôn N4, xã AĐ, huyện BL, tỉnh HN và hai đối tượng tên Tưởng, Cường (không rõ họ tên, địa chỉ cụ thể) có sử dụng ma túy tại quán Karaoke Quỳnh Anh thuộc thị trấn BM, huyện BL, tỉnh HN. Xét thấy vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Công an huyện BL, tỉnh HN, nên Cơ quan điều tra Công an huyện TL đã thông báo để Công an huyện BL giải quyết theo thẩm quyền.

Tại bản cáo trạng số 02/KSĐT ngày 18/12/2017, Viện kiểm sát nhân dân huyện TL đã truy tố Nguyễn Thanh T1 về tội “Cướp tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 133 của Bộ luật Hình sự năm 1999.

Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TL giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử - Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh T1 phạm tội “Cướp tài sản”. Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 133 của Bộ luật Hình sự năm 1999; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 - Xử phạt Nguyễn Thanh T1 từ 07 đến 08 năm tù; miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo; buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định. Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc đinh ba, 01 con dao phay. Bị cáo T1 đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và có ý kiến xin giảm nhẹ hình phạt. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không yêu cầu gì và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận đinh như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện TL, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện TL, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên toà cũng như tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Thanh T1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như bản cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo được thẩm tra tại phiên tòa, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, lời khai của bị hại, người làm chứng, vật chứng đã thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận:

Do bị ảo giác sau khi sử dụng ma túy đá nên khoảng 23 giờ 30 phút ngày24/7/2017, Nguyễn Thanh T1 đã cầm theo một chiếc đinh ba và một con dao phay chạy từ nhà ra khu vực cây xăng phố Đ1, xã LC, huyện TL, tỉnh HN. T1 đi loanh quanh bên ngoài cây xăng và sau đó đi sang phía đường tàu cạnh Quốc lộ 21A. Lúc này T1 phát hiện chị Dương Thị T4 điều khiển xe mô tô BKS 90B1-397.70 đi hướng PL - NĐ đến trước khu vực cây xăng, thì T1 giơ con dao cùng chiếc đinh ba ra để đe dọa chặn chị T4 lại và chiếm đoạt chiếc xe mô tô BKS 90B1-397.70 có trị giá là 8.000.000đ (Tám triệu đồng).

[3] Hành vi nêu trên của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản công dân được pháp luật bảo hộ, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương. Bản thân bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự; sử dụng vũ khí, phương tiện nguy hiểm để chiếm đoạt tài sản. Hội đồng xét xử kết luận: Viện kiểm sát nhân dân huyện TL truy tố Nguyễn Thanh T1 về tội “Cướp tài sản” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 133 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét về nhân thân bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, thấy rằng:

Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân xấu, ngày 10/01/2011 và ngày 12/12/2016, bị Công an thành phố PL, tỉnh HN xử phạt hành chính về hành vi "Tàng trữ trái phép chất ma túy"; ngày 01/9/2017, bị Tòa án nhân dân huyện TL, tỉnh HN ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào.

Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật Hình sự năm 1999. Ngoài ra, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; nên Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 46 của bộ luật Hình sự năm 1999.

Qua xem xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo; Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo là người có nhân thân xấu, nghiện ma túy, nên cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là người nghiện ma túy, không có thu nhập nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.

[4] Đối với hành vi sử dụng ma túy vào khoảng 15 giờ ngày 22/7/2017 của T1 cùng với đối tượng Nguyễn Ngọc Đ2 và hai đối tượng tên Tưởng, Cường (không rõ họ tên, địa chỉ cụ thể) tại quán Karaoke Quỳnh Anh thuộc thị trấn BM, huyện BL, tỉnh HN: Cơ quan điều tra Công an huyện TL đã thông báo để Cơ quan CSĐT Công an huyện BL giải quyết theo thẩm quyền là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Anh Nguyễn Văn H1 và chị Dương Thị T4 đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường gì, nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[6] Về xử lý vật chứng:

+ Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave S BKS 90B1-397.70: Đây là tài sản hợp pháp của anh Nguyễn Văn H1 và chị Dương Thị T4. Do vậy, Cơ quan CSĐT Công an huyện TL quyết định xử lý vật chứng trả lại tài sản cho chủ sở hữu hợp pháp là phù hợp pháp luật.

+ Đối với 01 (một) chiếc đinh ba và 01 (một) con dao (loại dao phay) là công cụ phạm tội, không có giá trị; nay sẽ căn cứ Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 để tịch thu tiêu huỷ.

[7] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thanh T1 phạm tội “Cướp tài sản”.

- Căn cứ vào điểm d khoản 2 Điều 133; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 33 của Bộ luật Hình sự năm 1999;

+ Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T1 07 (bảy) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam là 27/9/2017.

+ Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

2. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 - Tịch thu tiêu hủy 01 (một) chiếc đinh ba và 01 (một) con dao (Chi tiết vật chứng như trong Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 19/12/2017 giữa Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện TL với Chi cục Thi hành án Dân sự huyện TL).

3. Án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội

- Buộc bị cáo Nguyễn Thanh T1 phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên tòa, được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa, được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”./.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

185
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 03/2018/HS-ST ngày 25/01/2018 về tội cướp tài sản

Số hiệu:03/2018/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Thanh Liêm - Hà Nam
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:25/01/2018
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về