Bản án 03/2018/HNGĐ-ST ngày 05/02/2018 về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘ ĐỨC, TỈNH QUẢNG NGÃI

BẢN ÁN 03/2018/HNGĐ-ST NGÀY 05/02/2018 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON KHI LY HÔN

Ngày 05 tháng 02 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mộ Đức xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 125/2017/TLST-HNGĐ, ngày 12 tháng 10năm 201 7 về việc “Ly hôn; tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2018/QĐXXST-HNGĐ, ngày 10 tháng 01 năm 2018, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Nguyễn Thị Thùy L, sinh năm 1996

2. Bị đơn: Ưng Quốc P, sinh năm 1987

Cùng địa chỉ: Thôn Phước S, xã Đức H, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi. Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Trong đơn khởi kiện ngày 03/10/2017, lời khai tại Tòa án và tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thùy L trình bày: Tôi và anh Ưng Quốc P tìm hiểu yêu thương nhau và tự nguyện đăng ký kết hôn tại UBND xã Đức Hiệp vào ngày 24/11/2016. Sau khi kết hôn thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, sau đó thì vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng về quan điểm sống, anh P không lo làm ăn mà suốt ngày ăn chơi ngoài đường, có quan hệ bên ngoài với người phụ nữ khác, không quan tâm gì đến vợ con. Tôi đã khuyên bảo anh P nhiều lần nhưng anh P vẫn không thay đổi từ đó dẫn đến vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn, cuộc sống chung không có hạnh phúc. Năm 2017 tôi có gửi đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn đến Tòa án nhân dân huyện Mộ Đức yêu cầu Tòa án giải quyết nhưng thời điểm đó anh P đến Tòa án hứa hẹn thay đổi và động viên tôi rút đơn khởi kiện. Khi đó vì thương con còn quá nhỏ nên tôi đã rút đơn khởi kiện để cho anh P có cơ hội thay đổi. Tuy nhiên, sau khi tôi rút đơn khởi kiện về chung sống nhưng anh P vẫn không thay đổi, cuộc sống chung vẫn không có hạnh phúc. Nay tình cảm vợ chồng giữa tôi và anh P đã không còn nên tôi yêu cầu Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với anh Ưng Quốc P.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Ưng Hoàng A, sinh ngày 28/9/2016. Hiện nay cháu A đang sống cùng với tôi, khi ly hôn tôi yêu cầu được nuôi con chung, không yêu cầu anh P cấp dưỡng cho con.

Về tài sản chung và nợ chung: Đều không có.

* Bị đơn anh Ưng Quốc P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng anh Phụng không đến Tòa án làm việc nên không có lời khai tại Tòa án.

* Ý kiến của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộ Đức tham gia phiên tòa:

- Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự cho rằng Thẩm phán, Thư ký tòa án, các Hội thẩm nhân dân và nguyên đơn đều thực hiện theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử tiến hành nghị án; Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt là vi phạm quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

- Về nội dung:

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn đối với bị đơn.

Về con chung: Giao cháu Ưng Hoàng A, sinh ngày 28/9/2016 cho chị L nuôi dưỡng; anh P không cấp dưỡng tiền nuôi con.

Về Tài ản chung, nợ chung: Không có

Về án phí: Chị L chịu án phí theo quy định của pháp luật.

*Những tài liệu chứng cứ mà nguyên đơn giao nộp cho Tòa án gồm: Giấy chứng nhận kết hôn (bản chính); giấy khai sinh tên Ưng Hoàng A (bản sao); CMND tên Nguyễn Thị Thùy L(bản sao), sổ hộ khẩu gia đình (bản sao).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Bị đơn anh Ưng Quốc P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt tại phiên tòa; Căn cứ vào khoản 2 Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thùy L và anh Ưng Quốc P kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn vào ngày 24/11/2016 tại Ủy ban nhân dân xã Đức Hiệp, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi. Quan hệ hôn nhân giữa chị L và anh P là hợp pháp. Quá trình chung sống do hai bên bất đồng về quan điểm sống, bị đơn không quan tâm đến gia đình, nguyên đơn đã khuyên bảo nhiều lần nhưng bị đơn không thay đổi nên giữa nguyên đơn và bị đơn xảy ra mâu thuẫn. Năm 2017 nguyên đơn có gửi đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn đến Tòa án nhân dân huyện Mộ Đức yêu cầu Tòa án giải quyết nhưng thời điểm đó anh P đến Tòa án hứa hẹn thay đổi và động viên nên rút đơn khởi kiện Sau khi thụ lý, giải quyết vụ án Tòa án đã mời hai bên đến để hòa giải, động viên anh chị trở lại đoàn tụ chung sống, cùng nhau nuôi dạy con chung nhưng chị L không những không đồng ý mà còn cương quyết yêu cầu ly hôn anh P. Mặt khác, Tòa án đã triệu tập bị đơn đến Tòa án làm việc, hòa giải nhưng bị đơn không chấp hành theo giấy triệu tập của Tòa án. Điều này chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa chị L và anh P mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu ly hôn của nguyên đơn.

[3]Về con chung: Nguyên đơn có yêu cầu nuôi con chung là Ưng Hoàng A, sinh ngày 28/9/2016. Xét thấy hiện nay cháu Anh chưa đủ 36 tháng tuổi, cháu Anh cần có sự chăm sóc của người mẹ để đảm bảo ổn định về cuộc sống và các điều kiện phát triển về tinh thần của cháu; về nguyên tắc, con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi. Căn cứ vào khoản 3, Điều 81 Luật hôn nhân gia đình năm 2014, có căn cứ để Hội đồng xét xử chấp nhận nguyện vọng của nguyên đơn được chăm sóc, nuôi dưỡng cháu A.

[4] Về cấp dưỡng nuôi con: Chị L không yêu cầu anh Phụng cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xét.

[5]Về tài sản chung và nợ chung: Nguyen đơn khai không có không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không xét.

[6] Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Chị Nguyễn Thị Thùy L phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng tại biên lai thu tiền số 0000884 ngày 12/10/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mộ Đức.

[7] Ý kiến của Kiểm sát viên phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28, Điều 147, Khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 235 Điều 271; Điều 273, Điều 278 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Tuyên xử:

1. Cho nguyên đơn Nguyễn Thị Thùy L được ly hôn bị đơn Ưng Quốc P.

2. Giao cháu Ưng Hoàng A, sinh ngày 28/9/2016 cho chị L tiếp tục trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng; anh Ưng Quốc P không cấp dưỡng nuôi con. Anh P có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Chị Nguyễn Thị Thùy L phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi, theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000884, ngày 12 tháng 10 năm 2017.

4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu Thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

5. Chị Nguyễn Thị Thùy L có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (05/02/2018). Đối với anh Ưng Quốc P không có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.


76
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 03/2018/HNGĐ-ST ngày 05/02/2018 về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn

Số hiệu:03/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Mộ Đức - Quảng Ngãi
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:05/02/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về