Bản án 03/2018/DS-ST ngày 18/07/2018 về tranh chấp kiện đòi tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN G, TỈNH BẮC NINH

BẢN ÁN 03/2018/DS-ST NGÀY 18/07/2018 VỀ TRANH CHẤP KIỆN ĐÒI TÀI SẢN

Ngày 18/07/2018, tại Tòa án huyện G, tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số: 27/2017/TLST-DS ngày 18/12/2017, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2018/QĐXXST-DS ngày 13/06/2018 giữa:

- Nguyên đơn: Chị Trịnh Thị T, sinh năm 1968; trú tại số 58, đường B, thị trấn Gia B, huyện G, tỉnh Bắc Ninh, có mặt;

- Bị đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1963; trú tại thôn H, thị trấn G, huyện G, tỉnh Bắc Ninh, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện, các bản khai và tại phiên tòa, nguyên đơn là chị Trịnh Thị T trình bày:

Chị yêu cầu chị Nguyễn Thị H có nghĩa vụ trả số tiền 191 triệu đồng. Số tiền trên là số tiền chị nhờ chị Nguyễn Thị H xin việc cho con chị. Sau khi chị Hương không xin được việc và không trả tiền cho chị, chị đã có đơn gửi Công an huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh để xử lý về hình sự; nhưng Công an huyện Gia Bình không không khởi tố và giải quyết về hình sự, nên chị khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết về dân sự. Căn cứ để khởi kiện và yêu cầu chị Nguyễn Thị H trả tiền, là ngày 10/09/2016 khi chị giao tiền cho chị Nguyễn Thị H có viết giấy biên nhận do chị Nguyễn Thị H ký và nhận tiền.

Tòa án đã giao các văn bản tố tụng hợp lệ cho chị Nguyễn Thị H, nhưng cho đến phiên tòa vẫn vắng mặt không lý do, không trình bày khai báo, hay phản đối gì đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm nghị án là đúng quy định pháp luật. Nguyên đơn tham gia phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa đã chấp hành đúng và đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật; bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do. Hội đồng xét xử đã xét xử vắng mặt bị đơn là đúng quy định của pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; các điều 158, 164, 166, 357 và 468 Bộ luật dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về án phí, lệ phí Tòa án xét xử: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn là buộc chị Nguyễn Thị H có nghĩa vụ trả cho chị Trịnh Thị T số tiền 191 triệu đồng chẵn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Đối với yêu cầu của nguyên đơn

Trước khi khởi kiện chị Trịnh Thị T đã gửi đơn đề nghị Công an huyện G xem xét xử lý đối với chị Nguyễn Thị H về hành vi nhận tiền để xin việc cho con chị. Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã yêu cầu Công an huyện G cung cấp hồ sơ liên quan đến đơn của chị Trịnh Thị T về việc đề nghị xử lý về hình sự đối với chị Nguyễn Thị H. Quá trình điều tra, xử lý đơn tố giác của chị Trịnh Thị T, Công an huyện Gia Bình kết luận là không có dấu hiệu hình sự và đã ra quyết định không khởi tố vụ án, kết thúc việc điều tra đối với đơn của chị Trịnh Thị T.

Chị Trịnh Thị T đã căn cứ vào giấy biên nhận tiền có chữ ký của chị Nguyễn Thị H để khởi kiện yêu cầu chị Nguyễn Thị H có nghĩa vụ trả số tiền 191 triệu đồng là có căn cứ chấp nhận bởi lẽ: Khi khởi kiện nguyên đơn đã gửi bản sao đơn khởi kiện và tài liệu chứng cứ gửi kèm theo đơn khởi kiện, trong đó có giấy biên nhận tiền có chữ ký của chị Nguyễn Thị H. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã giao hợp lệ các văn bản tố tụng là: Thông báo thụ lý vụ án, thông báo công khai chứng cứ và hòa giải, giấy triệu tập, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa và giấy triệu tập phiên tòa; nhưng cho đến phiên tòa hôm nay, chị Nguyễn Thị H vắng mặt không lý do và cũng không văn bản trình bày hay phản đối, đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn là buộc chị Nguyễn Thị H có nghĩa vụ trả cho chị Trịnh Thị T số tiền 191 triệu đồng là phù hợp pháp luật.

Việc chị Nguyễn Thị H không có lời trình bày, không chấp hành các văn bản tố tụng của Tòa án; Hội đồng xét xử đã căn cứ vào khoản 2 Điều 91, khoản 2 Điều 192, điểm b, khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự để giải quyết và xét xử vắng mặt bị đơn là đúng pháp luật.

[2]. Án phí

Yêu cầu của nguyên đơn được chấp nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

[3]. Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phát biểu về điều luật áp dụng và đường lối xử lý là phù hợp pháp luật, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ các vào khoản 2 Điều 91, khoản 2 Điều 192, điểm b, khoản 2 Điều 227, Điều 228 và các điều 26, 35, 39, 91, 144, 147, 235, 239, 248, 249, 260, 261, 262, 264, 266, 267, 271 và 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ các điều 164, 166, 357 và 468 Bộ luật dân sự;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về án phí, lệ phí Tòa án xử:

1. Buộc chị Nguyễn Thị H có nghĩa vụ trả cho chị Trịnh Thị T 191 triệu đồng.

Trách nhiệm do chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền: Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án, cho đến khi thi hành án xong; bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên, nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự; nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.

Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

2. Án phí

Chị Nguyễn Thị H phải chịu 9.555.00đ án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả chị Trịnh Thị T 4.775.000đ tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai số 0001181 ngày 18/12/2017, của Chi cục thi hành án dân sự huyện G, tỉnh Bắc Ninh.

Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.


80
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 03/2018/DS-ST ngày 18/07/2018 về tranh chấp kiện đòi tài sản

Số hiệu:03/2018/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Gia Bình - Bắc Ninh
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 18/07/2018
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về