Bản án 02/2021/HS-ST ngày 29/10/2020 về tội môi giới mại dâm

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐOAN HÙNG, TỈNH PHÚ THỌ

BẢN ÁN 02/2021/HS-ST NGÀY 29/10/2020 VỀ TỘI MÔI GIỚI MẠI DÂM

Ngày 29 tháng 10 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 48/2020/TLST- HS ngày 11 tháng 9 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 55/2020/QĐXXST- HS ngày 30 tháng 9 năm 2020 đối với bị cáo:

Vũ Thị Ng- sinh ngày 14 tháng 9 năm 1965 tại huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái; nơi cư trú: Khu hành chính TS, thị trấn Đ, huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 4/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Đình V1 (đã chết) và bà Nguyễn Thị T1 sinh năm 1937; có chồng là Trần Xuân P sinh năm 1961 và 02 con (lớn sinh năm 1988, nhỏ sinh năm 2001); tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ 23 giờ ngày 01/7/2020 đến 23 giờ ngày 10/7/2020, được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, hiện tại ngoại. Có mặt.

* Người bào chữa cho bị cáo Vũ Thị Ng: Luật sư Lê Hữu L- Công ty Luật hợp danh HV Phú Thọ, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Phú Thọ. Có mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

- Anh Hoàng Anh Q1 - sinh năm 1984 Trú tại: Khu 2, xã T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ;

- Anh Nguyễn Tuấn L - sinh năm 1990 Trú tại: Khu 4, xã Đ1, huyện B, tỉnh Phú Thọ;

- Chị Lưu Thị H- sinh năm 1974 Trú tại: Thôn C, xã N, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang;

- Chị Nguyễn Thị Thu K- sinh năm 1984 mặt) Trú tại: Khu 9, xã S, huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ;

- Ông Trần Xuân P- sinh năm 1961 Trú tại: Khu hành chính TS, thị trấn Đ, huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ;

(Ông P có mặt; những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khác vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào hồi 14 giờ 20 phút ngày 01/7/2020, Phòng Cảnh sát hình sự- Công an tỉnh Phú Thọ phối hợp với Công an thị trấn Đ, huyện Đoan Hùng kiểm tra nhà nghỉ H1 và nhà nghỉ H2 đều ở khu TS, thị trấn Đ, phát hiện có 02 đôi nam nữ đang quan hệ tình dục. Cụ thể:

- Tại phòng nghỉ số 210 nhà nghỉ H2 có một nam giới đang quan hệ tình dục với chị Lưu Thị H sinh năm 1974, ở xã N, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang. Nam giới này tự khai là Dương Tú A, sinh năm 1984, ở phường M, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. Vật chứng thu giữ: 500.000đ (năm trăm nghìn đồng); 01 (một) bao cao su màu vàng, đường kính vành bao 3cm, đã qua sử dụng; 01 bao cao su nhãn hiệu “GOODCONDOM-ROMAX” chưa qua sử dụng.

- Tại phòng nghỉ số 103 nhà nghỉ H1 có một nam giới đang quan hệ tình dục với chị Nguyễn Thị Thu K sinh năm 1984, ở xã S, huyện Đoan Hùng. Nam giới này tự khai là Nguyễn Đại Q, sinh năm 1986, ở phường M, thành phố V. Vật chứng thu giữ: 400.000đ (bốn trăm nghìn đồng); 01 (một) bao cao su màu vàng đường kính vành bao 3cm, đã qua sử dụng; 01 vỏ bao cao su nhãn hiệu “OK”, đã bị xé rách; 04 bao cao su nhãn hiệu “OK” chưa qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu VIETTEL, mặt sau màu đỏ, số IMEI 1:

3594290674994xx, số IMEI 2: 3594290674994xx, lắp sim số 0375.061.5xx.

Điều tra ban đầu, chị Nguyễn Thị Thu K và chị Lưu Thị H khai nhận: Vũ Thị Ng sinh năm 1965 ở khu TS, thị trấn Đ, huyện Đoan Hùng đã môi giới, dẫn dắt để chị H và chị K bán dâm với Nguyễn Đại Q và Dương Tú A, khi đang thực hiện việc bán dâm thì bị Cơ quan Công an kiểm tra, phát hiện và lập biên bản như đã nêu trên. Cùng ngày, Cơ quan điều tra khám xét khẩn cấp nơi ở của Vũ Thị Ng, thu giữ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280 lắp sim số 0329.561.5xx, số IMEI: 353297054935981 và 22 bao cao su chưa sử dụng. Vũ Thị Ng thừa nhận hành vi môi giới, dẫn dắt cho 02 đôi nam nữ mua, bán dâm với nhau như nêu trên.

Ngày 03/7/2020, Cơ quan CSĐT- Công an tỉnh Phú Thọ bàn giao vụ việc môi giới mại dâm trên đến Cơ quan CSĐT- Công an huyện Đoan Hùng để điều tra theo thẩm quyền.

Ngày 10/7/2020, Cơ quan CSĐT- Công an huyện Đoan Hùng khởi tố vụ án hình sự “Môi giới mại dâm”, khởi tố bị can đối với Vũ Thị Ng về tội “Môi giới mại dâm” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 328 BLHS.

Quá trình điều tra làm rõ: Vũ Thị Ng bán nước giải khát tại nhà ở của mình giáp Quốc lộ 70 thuộc khu TS, thị trấn Đ, huyện Đoan Hùng. Khoảng cuối tháng 6/2020, chị Nguyễn Thị Thu K và chị Lưu Thị H đến quán của Ng chơi, sau đó chị K và chị H thỏa thuận với Ng nếu có khách đến quán của Ng uống nước có nhu cầu mua dâm thì Ng sẽ liên lạc cho hai người này bán dâm cho khách. Chị K và chị H sẽ tự thỏa thuận giá bán dâm với khách, mỗi lần bán dâm xong, mỗi người sẽ trả cho Ng 50.000đ/1lượt tiền công môi giới.

Khong 13 giờ ngày 01/7/2020, anh Hoàng Anh Q1 sinh năm 1984, ở khu 2, xã T, thành phố V và anh Nguyễn Tuấn L sinh năm 1990, ở khu 4, xã Đ1, huyện B, tỉnh Phú Thọ đến quán của Ng uống nước. Anh L nói với Ng: “Tìm cho cháu hai đứa đi uống nước”. Ng hiểu ý anh L muốn tìm người để mua dâm nên chỉ về phía chị H, nói “Có một người đây rồi”. Sau đó, Ng sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1208, lắp sim số 0329.561.5xx gọi điện đến số điện thoại 0375.061.5xx của chị K, nói: “Lên uống nước”. Chị K hiểu ý Ng bảo lên bán dâm cho khách nên trả lời “Vâng”. Khoảng 10 phút sau, chị K đến quán của Ng. Sau đó, chị K cùng anh L đến nhà nghỉ H1 của chị Tạ Thị V2 sinh năm 1983 tại khu TS, thị trấn Đ thuê phòng số 103 để quan hệ tình dục. Chị H cùng anh Q1 đến nhà nghỉ H2 của gia đình ông Nguyễn Văn L1 sinh năm 1967 tại khu TS, thị trấn Đ thuê phòng số 210 để quan hệ tình dục. Anh L và chị K thỏa thuận tiền mua, bán dâm là 300.000đ, chị K trả tiền phòng. Anh L đưa cho chị K 300.000đ tiền mua dâm, cho thêm 100.000đ để chị K phục vụ tốt hơn. Sau đó chị K và anh L cởi hết quần áo của mình rồi quan hệ tình dục. Tại nhà nghỉ H2, anh Q1 và chị H thỏa thuận tiền mua, bán dâm là 300.000đ, chị H trả tiền phòng. Anh Q1 đưa chị H 500.000đ, trong đó trả tiền mua dâm là 300.000đ, cho thêm 150.000đ để chị H phục vụ tốt hơn, chị H trả lại anh Q1 50.000đ. Sau đó chị H và anh Q1 cởi hết quần áo của mình rồi quan hệ tình dục.

Khi chị K và anh L, chị H và anh Q1 đang quan hệ tình dục với nhau thì bị Phòng Cảnh sát hình sự- Công an tỉnh Phú Thọ kiểm tra, phát hiện và lập biên bản như đã nêu trên. Quá trình lập biên bản, anh L khai tên là Nguyễn Đại Q, sinh năm 1986; anh Q1 khai tên là Dương Tú A, sinh năm 1984; cả hai đều khai nơi cư trú là phường M, thành phố V, tỉnh Phú Thọ.

Tại bản cáo trạng số: 48/CT- VKSĐH ngày 09/9/2020, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đoan Hùng đã truy tố Vũ Thị Ng về tội “Môi giới mại dâm” theo điểm đ khoản 2 Điều 328 của Bộ luật hình sự.

Trong phần tranh luận tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

* Tuyên bố: Bị cáo Vũ Thị Ng phạm tội: “Môi giới mại dâm”.

Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 328; điểm s, t khoản 1 Điều 51 ; Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt Vũ Thị Ng 36 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 5 năm.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

* Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự :

- Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước 850.000đ trong số 900.000đ đã thu giữ.

- Tịch thu, bán nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA 1280, vỏ màu xanh dương, số IMEI: 3532970549359xx.

- Trả lại cho chị Nguyễn Thị Thu K 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIETTEL, mặt sau màu đỏ, số IMEI 1: 3594290674994xx, số IMEI 2:

3594290674994xx, lắp sim số 0375.061.5xx.

- Trả lại cho chị Lưu Thị H 50.000đ.

- Tịch thu tiêu hủy: Sim điện thoại số 0329.561.5xx; 01 vỏ bao cao su; 02 bao cao su đã qua sử dụng; 27 bao cao su chưa qua sử dụng.

* Án phí: Buộc bị cáo Vũ Thị Ng phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Tại phiên tòa, bị cáo Vũ Thị Ng không tranh luận, không bào chữa.

* Người bào chữa cho bị cáo Vũ Thị Ng trình bày lời bào chữa: Nhất trí với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát, xin bổ sung: Bị cáo Vũ Thị Ng được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm s, t khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 54, Điều 65 Bộ luật hình sự và Nghị quyết 02 ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt.

Bị cáo Vũ Thị Ng không bổ sung ý kiến bào chữa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Trần Xuân P không tranh luận.

Bị cáo Vũ Thị Ng nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Trong vụ án này, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại, do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên đều hợp pháp.

[2] Lời khai của bị cáo Vũ Thị Ng tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, vật chứng đã thu giữ, phù hợp với lời khai của chính bị cáo tại cơ quan điều tra và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ cơ sở kết luận:

Khong hơn 13 giờ ngày 01/7/2020, tại quán bán nước của mình giáp Quốc lộ 70 thuộc khu TS, thị trấn Đ, huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ, Vũ Thị Ng đã làm trung gian, dẫn dắt để chị Lưu Thị H đi bán dâm cho anh Hoàng Anh Q1 tại nhà nghỉ H2, chị Nguyễn Thị Thu K đi bán dâm cho anh Nguyễn Tuấn L tại nhà nghỉ H1, nhằm hưởng lợi 100.000đ. Hành vi của Vũ Thị Ng đã phạm tội “Môi giới mại dâm” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 328 Bộ luật hình sự.

Điều 328 Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào làm trung gian dụ dỗ, dẫn dắt để người khác thực hiện việc mua dâm, bán dâm, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:

……………….

đ) Đối với 02 người trở lên;

……………….”

[3] Hành vi của Vũ Thị Ng đã xâm phạm trật tự công cộng, ảnh hưởng xấu đến đạo đức, thuần phong mỹ tục của dân tộc. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là trái pháp luật, nhưng vì hám lợi nên vẫn cố ý thực hiện. Tuy nhiên, Vũ Thị Ng đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tích cực hợp tác, giúp đỡ Cơ quan CSĐT- Công an huyện Đoan Hùng trong việc điều tra một vụ án khác, nên được áp dụng 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, t khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

[4] Vũ Thị Ng có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú ổn định, rõ ràng. Đại diện Viện kiểm sát và người bào chữa đề nghị áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo là có căn cứ, được Hội đồng xét xử chấp nhận. Mức hình phạt mà Kiểm sát viên đề nghị là thỏa đáng. Vì vậy việc người bào chữa đề nghị áp dụng thêm Điều 54 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt không được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 4 Điều 328 Bộ luật hình sự, thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000đ đến 50.000.000đ. Do Vũ Thị Ng không có tài sản riêng, nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6] Quá trình điều tra, chị Nguyễn Thị Thu K khai nhận ngoài lần bán dâm ngày 01/7/2020, chị K còn được Ng môi giới để bán dâm nhiều lần khác.

Mỗi lần bán dâm chị K đều trả cho Ng 50.000đ tiền công môi giới. Tuy nhiên cả Ng và chị K đều không nhớ thời gian, địa điểm bán dâm và người mua dâm là ai nên không có căn cứ để xử lý.

[7] Anh Nguyễn Tuấn L, anh Hoàng Anh Q1, chị Lưu Thị H, chị Nguyễn Thị Thu K có hành vi mua, bán dâm, Cơ quan điều tra đã chuyển Công an huyện Đoan Hùng xử phạt hành chính là đúng quy định của pháp luật.

[8] Về xử lý vật chứng:

- Trong số tiền 900.000đ đang tạm giữ có 600.000đ là tiền mua dâm; ngoài ra có 100.000đ anh Nguyễn Tuấn L cho chị Nguyễn Thị Thu K, 150.000đ anh Hoàng Anh Q1 cho chị Lưu Thị H, đều liên quan đến việc mua bán dâm.

Vì vậy cần tịch thu tổng cộng 850.000đ để nộp ngân sách nhà nước. Số tiền còn lại 50.000đ là tài sản hợp pháp của chị Lưu Thị H, sẽ trả lại cho chị H.

- Trong số 27 bao cao su chưa qua sử dụng đã thu giữ, có 22 bao cao su thu giữ tại nơi ở của Vũ Thị Ng là của ông Trần Xuân P (chồng Ng), không liên quan đến hành vi phạm tội của Ng, nhưng ông P không yêu cầu nhận lại; 05 bao cao su còn lại là của chị Lưu Thị H và chị Nguyễn Thị Thu K chuẩn bị sẵn để phục vụ việc bán dâm. Vì vậy toàn bộ 27 bao cao su nói trên sẽ tịch thu tiêu hủy cùng 02 bao cao su đã qua sử dụng và 01vỏ bao cao su đã thu giữ .

- Vũ Thị Ng đã sử dụng chiếc điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA 1280, vỏ màu xanh dương, số IMEI: 3532970549359xx lắp sim số 0329.561.5xx để liên lạc môi giới mại dâm. Chiếc điện thoại này là công cụ, phương tiện phạm tội, cần tịch thu, bán nộp ngân sách nhà nước; sim điện thoại không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

- Do chị Nguyễn Thị Thu K chỉ vi phạm hành chính, nên trả lại chiếc điện thoại di động nhãn hiệu VIETTEL, mặt sau màu đỏ, số IMEI 1: 3594290674994xx, số IMEI 2: 3594290674994xx, lắp sim số 0375.061.5xx cho chị K.

[9] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Vũ Thị Ng phải nộp theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 328; điểm s, t khoản 1 Điều 51; khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 65; điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, Căn cứ khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án:

* Về trách nhiệm hình sự:

- Tuyên bố: Bị cáo Vũ Thị Ng phạm tội: “Môi giới mại dâm”.

- Xử phạt Vũ Thị Ng 03 (Ba) năm tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 (Năm) năm. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao Vũ Thị Ng cho UBND thị trấn Đ, huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Nếu người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 và khoản 1, khoản 2 Điều 68 Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo phải thực hiện các nghĩa vụ của người được hưởng án treo theo quy định của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt của Bản án đã cho hưởng án treo.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với Vũ Thị Ng.

* Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước số tiền 850.000đ (Tám trăm năm mươi nghìn đồng) trong số 900.000đ (Chín trăm nghìn đồng) đã thu giữ.

- Tịch thu, bán nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA 1280, vỏ màu xanh dương, số IMEI: 3532970549359xx của Vũ Thị Ng.

- Trả lại cho chị Lưu Thị H 50.000đ (Năm mươi nghìn đồng).

- Trả lại cho chị Nguyễn Thị Thu K 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIETTEL, mặt sau màu đỏ, số IMEI 1: 3594290674994xx, số IMEI 2: 3594290674994xx, lắp sim số 0375.061.5xx.

- Tịch thu tiêu hủy: Sim điện thoại số 0329.561.5xx; 01 vỏ bao cao su; 02 bao cao su đã qua sử dụng; 27 bao cao su chưa qua sử dụng.

(Các vật chứng nêu trên có đặc điểm cụ thể như biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan CSĐT- Công an huyện Đoan Hùng và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đoan Hùng).

* Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Vũ Thị Ng phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có mặt có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngàynhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.


34
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về