Bản án 02/2021/HS-ST ngày 27/01/2021 về tội chứa mại dâm

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ HỢP, TỈNH NGHỆ AN

BẢN ÁN 02/2021/HS-ST NGÀY 27/01/2021 VỀ TỘI CHỨA MẠI DÂM

  Ngày 27 tháng 01 năm 2021, tại  Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Q, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình  thụ lý số: 02/2021/TLST-HS ngày 07/ 01 /2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2021/QĐXXST-HS ngày 15/ 01 /2021 đối với bị cáo:

Nguyễn Thị T: Sinh năm 1958. Giới tính : Nữ  Cư trú tại: Khối 1, thị trấn Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An.

Nghề nghiệp: Kinh doanh nhà nghỉ. Trình độ văn hóa: 7/10.

Dân tộc: Kinh. Quốc tịch: Việt Nam. Tôn giáo:Không.

Con ông: Nguyễn Văn P và con bà Phùng Thị Đ.

Chồng Hoàng Khắc T. Con có 03 người lớn nhất 41 tuổi, nhỏ 30 tuổi. Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không.

Bị cáo được tại ngoại. Có mặt.

Người m chứng: Anh Nguyễn Văn S: Sinh năm 1979.

Trú tại: Xóm T, xã K, huyện N, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt. Chị Lữ Thị Hồng T, sinh năm 1993.

Trú tại: Bản L, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 21 giờ 45 phút ngày 12 tháng 10 năm 2020, tại phòng số 02, tầng 1 nhà nghỉ “Thành Tập” Khối 1, thị trấn Q, huyện Q tổ công tác của Phòng cảnh sát hình sự Công an tỉnh Nghệ An phối hợp với Công an huyện Q phát hiện bắt quả tang Nguyễn Văn S và Lữ Thị Hồng T đang có hành vi mua bán dâm. Quá trình điều tra xác định Nguyễn Thị T là chủ nhà nghỉ “Thành Tập” đã sử dụng địa điểm kinh doanh do mình làm chủ để cho Lữ Thị Hồng T (là nhân viên nhà nghỉ) bán dâm cho khách là Nguyễn Văn S để thu lợi số tiền 600.000đ  Vật chứng: 01 bao cao su đã qua sử dụng.

Bản cáo trạng số: 05/CT-VKSQH,  ngày 05/ 01/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Q, tỉnh Nghệ An truy tố bị cáo  Nguyễn Thị T về tội “ Chứa mại dâm” theo khoản 1 Điều 327 BLHS.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội vẫn giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo  Nguyễn Thị T về tội “ Chứa mại dâm” như Bản cáo  trạng.

Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 327 và điểm s khoản 1, 2  Điều 51, Điều 65 BLHS xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T từ 15 đến 18 tháng tù cho  hưởng án treo, thời gian thử thách từ 30 tháng đến 36 tháng.

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của Pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[ 1 ]. Tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng.

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan  Điều tra Công an huyện Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Q, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có người nào có ý kiến hoặc khiếu  nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[ 2 ]. Những chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định không có tội.

Lời khai của bị cáo, biên bản phạm tội quả tang, lời khai người làm chứng. Bị cáo đã có hành vi phạm tội như sau; Khoảng 21 giờ 45 phút ngày 12 tháng 10 năm 2020, tại phòng số 02, tầng 1 nhà nghỉ “Thành Tập”  Khối 1, thị trấn Q, huyện Q tổ công tác của Phòng cảnh sát hình sự Công an tỉnh Nghệ An phối hợp với Công an huyện Q phát hiện bắt quả tang Nguyễn Văn S và Lữ Thị Hồng T đang có hành vi mua bán dâm. Quá trình điều tra xác định Nguyễn Thị T là chủ nhà nghỉ “Thành Tập” đã sử dụng địa điểm kinh doanh do mình làm chủ để cho Lữ Thị Hồng T (là nhân viên nhà nghỉ) bán dâm cho khách là Nguyễn Văn S để thu lợi số tiền 600.000đ. Như vậy có đủ cơ sở bị cáo Nguyễn Thị T phạm tội “ Chứa mại dâm” theo khoản 1 Điều 327 BLHS.

[ 3]. Tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

Đây là vụ án có tính chất nghiêm trọng  bị cáo Nguyễn Thị T đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trật tự, trị an trên địa bàn.

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo Nguyễn Thị T không có tiền án, tiền sự, nhân thân, bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, chồng bị cáo được tặng thưởng Huân chương chiến sĩ giải phóng, đây là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS.

bị cáo luôn chấp hành đúng chính sách, pháp luật của Nhà nước và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ công dân nơi cư trú. Do vậy cần lên một mức án tương xứng với hành vị phạm tội của bị cáo, nhưng cũng cần xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Tuy nhiên không cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cần giao bị cáo cho chính quyền địa phương giám sát, theo dõi trong thời gian thử thách là đủ.

Đối với Nguyễn Văn S và Lữ Thị Hồng T có hành vi mua bán dâm nên Phòng cảnh sát hình sự Công tỉnh Nghệ An đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính là đủ, do  vậy Hội đồng xét xử không xem xét. Đối với Nguyễn Văn Đ chưa có hành vi mua dâm nên không có căn cứ để xử lý. Đối với ông Hoàng Khắc T việc bị cáo Tập chứa mại dâm là không biết do vậy không liên quan trong vụ án này.

[ 4] Về vật chứng: Tuyên tịch thu tiêu hủy 01 bao cao su đã qua sử dụng. Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 600.000đ thu của bị cáo Nguyễn Thị T do phạm tội mà có.

[ 5 ] Về án phí. Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị T phạm tội “ Chứa mại dâm”.

- Áp dụng:  Khoản 1 Điều 327, điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Điều 65 Bộ luật hình sự.

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T: 15 (Mười lăm) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 30 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao  bị cáo Nguyễn Thị T cho  Ủy ban nhân dân thị trấn Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp bị cáo Nguyễn Thị T thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện  theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp  hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 bao cao su đã qua sử dụng. Chi tiết thể hiện tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 06/01/2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Q.

Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 600.000 đ (Sáu trăm nghìn đồng) hiện đang tạm gửi vào trong tài khoản số 3949.0.904223700000 của Công an huyện Q, tỉnh Nghệ An chi tiết thể hiện tại giấy nộp tiền ngày 23/12/2020 của Ngân hàng NN0  huyện Q – Tây Nghệ An.

Án phí: Áp dụng  khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm đ khoản 1 Điều  12, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm  2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo  Nguyễn Thị T phải chịu án phí HSST là 200.000 đ (Hai trăm nghìn) đồng.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân Tỉnh Nghệ An.


28
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 02/2021/HS-ST ngày 27/01/2021 về tội chứa mại dâm

Số hiệu:02/2021/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Quỳ Hợp - Nghệ An
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:27/01/2021
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về