Bản án 02/2020/HS-ST ngày 12/02/2020 về tội vi phạm quy định tham gia giao thông đường bộ  

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUYÊN HẢI, TỈNH TRÀ VINH

BẢN ÁN 02/2020/HS-ST NGÀY 12/02/2020 VỀ TỘI VI PHẠM QUY ĐỊNH THAM GIA GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ

Ngày 12 tháng 02 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 01/2020/TLST-HS ngày 10 tháng 01 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2020/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 01 năm 2020 đối với bị cáo:

Nguyễn Vũ L, sinh năm 1984 tại Duyên Hải, Trà Vinh. Nơi cư trú khóm P, phường A , thị xã D, tỉnh Trà Vinh; nghề nghiệp: tài xế; trình độ học vấn: 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn M và bà Nguyễn Thị A; bị cáo có vợ Phạm Thị Dung N; Có 02 con, lớn nhất sinh năm 2008, nhỏ nhất sinh năm 2012; tiền án: không, tiền sự: không; Bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 04/12/2019 đến nay (bị cáo có mặt tại phiên tòa).

- Ngườị bị hại: Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1973 (đã chết) Nơi cư trú: ấp C, xã Đông H, huyện D, tỉnh Trà Vinh

- Người đại diện hợp pháp của bị hại:

Bà Lê Thị C, sinh năm 1948. Nơi cư trú ấp B, xã Long T, thị xã D, tỉnh Trà Vinh. Có đơn xét xử vắng mặt

Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1992. Nơi cư trú ấp C, xã Đông H, huyện D, tỉnh Trà Vinh. Có đơn xét xử vắng mặt.

Anh Nguyễn Nhật H, sinh năm 2002. Nơi cư trú ấp C, xã Đông H, huyện D, tỉnh Trà Vinh.

Người đại diện bà Bùi Thị Tuyết T, sinh năm 1977. Nơi cư trú ấp Khoán T, xã Trường Long H, thị xã D, tỉnh Trà Vinh. Có đơn xét xử vắng mặt

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị A, sinh năm 1952. Nơi cư trú khóm P, phường A , thị xã D, tỉnh Trà Vinh.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Cáo trạng số 01/CT-VKS-HS ngày 09 tháng 01 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh truy tố bị cáo Nguyễn Vũ L về tội “ Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự. Hành vi bị cáo Nguyễn Vũ L bị truy tố như sau: Vào khoảng 13 giờ 00 phút ngày 04/10/2019 bị cáo Nguyễn Vũ L, sinh năm 1984, ngụ khóm Phước B, phường A, thị xã D, tỉnh Trà Vinh điều khiển xe ô tô biển số 84L-4855 đi từ xã Dân Thành để về nhà thuộc phường A, thị xã D. Khi đang lưu thông trên Quốc lộ 53 thuộc khóm Bến C, phường A, thị xã D thì bị cáo L nhìn thấy có 01 xe mô tô biển số 84M1-112.53 do ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1973, ngụ ấp Cồn C, xã Đông H, huyện D điều khiển đi theo hướng cùng chiều có biểu hiện chao đảo. Lúc này, bị cáo L giảm tốc độ và cho xe vượt qua xe của ông N đang chạy phía trước. Khi phần đầu xe ô tô biển số 84L-4855 vượt qua xe mô tô biển số 84M1-112.53 thì bị cáo L nhìn qua gương chiếu hậu thấy tay cầm bên trái của xe mô tô biển số 84M1-112.53 va chạm vào thành thùng xe bên phải xe ô tô biển số 84L-4855 làm ông N ngã xuống đường. Sau đó, bị cáo L cho xe dừng lại rồi nhờ người đưa ông N đến bệnh viện đa khoa tỉnh Trà Vinh cấp cứu nhưng ông N đã tử vong tại bệnh viện.

Biên bản khám nghiệm hiện trường vụ tai nạn giao thông ngày 04-10-2019 tại Quốc lộ 53 khóm Bến C, phường A, thị xã D,tỉnh Trà Vinh thể hiện như sau: Vụ tai nạn giao thông xảy ra trên đoạn đường hai chiều, mặt đường rộng 6 m, có vạch sơn đứt quãng màu vàng kẻ tim đường, đường thẳng tầm nhìn không bị che khuất, mặt đường bê tông nhựa bằng phẳng.

Sau khi va chạm để lại trên mặt đường, vết cày không liên tục, có chiều hướng từ phường 1 về phường 2. Vết in lõm xuống mặt đường, vết cày dài 8,5 m.

Đầu cày cách lề chuẩn là 1,1 m và cách điểm mốc là 13,87 m. Cuối cày cách lề chuẩn là 0,65 m.

Vị trí xe mô tô 84 M1–11253 khi va chạm xe ngã sang bên trái, đầu xe hướng vào lề chuẩn, đuôi xe hướng vào lề trái.

Vị trí xe ô tô tải 84L – 4855 khi va chạm xe đứng trên mặt đường, đầu xe hướng về phường 2, đuôi xe hướng về phường 1. Tại bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 267/KLGĐ ngày 11-10-2019 của Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Trà Vinh kết luận nguyên nhân dẫn đến tử vong của ông Nguyễn Văn N do chấn thương vùng bụng gây vỡ gan, lách làm mất máu cấp.

Vật chứng thu giữ gồm 01 xe ô tô tải biển số 84L - 4855; một giấy phép láy xe hạng C số 84 011 400 3016 (photo); 01 xe mô tô 84 M1 – 112.53. Ngày 25 tháng 11 năm 2019 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Duyên Hải đã ra quyết định xử lý đồ vật trả lại 01 xe ô tô biển số 84L-4855 cho ông Nguyễn Vũ L và trả lại cho gia đình ông Nguyễn Văn N 01 xe mô tô biển số 84M1-112.53. Về vấn đề mua bảo hiểm xe ô tô tải biển số 84L - 4855 bị cáo không yêu cầu giải quyết mà tự bị cáo thỏa thuận với công ty bảo hiểm và bị cáo đã bồi thường toàn bộ cho người đại diện hợp pháp của bị hại xong và người đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Vũ L thừa nhận điều khiển xe ô tô biển số 84L- 4855 vượt xe trong trường hợp đường không đảm bảo an toàn cho việc vượt nên xảy ra va chạm với xe mô tô biển số 84M1-112.53 do ông Nguyễn Văn N điều khiển đi theo hướng cùng chiều. Hậu quả là ông Nguyễn Văn N đã tử vong trong quá trình cấp cứu tại bệnh viện đa khoa tỉnh Trà Vinh. Hậu quả ông N đã tử vong đúng như nội dung Cáo trạng đã nêu và các lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra. Bị cáo thừa nhận hành vi của bị cáo là có lỗi và vi phạm pháp luật.

Đại diện hợp pháp của bị hại là bà Lê Thị C; anh Nguyễn Văn T; anh Nguyễn Nhật H đã nhận 60.000.000 đồng bị cáo L bồi thường nên không yêu cầu bị cáo phải bồi thường về dân sự và xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Kiểm sát viên giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Vũ L phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51. Điều 65 của Bộ luật hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Vũ L từ 12 đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo với thời gian thử thách là từ 24 đến 36 tháng. Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại bị hại không yêu cầu nên đề nghị không xem xét.

Bị cáo và Kiểm sát viên không có tranh luận, đối đáp với nhau;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Tn cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã thẩm tra các Quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và hành vi của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, thấy rằng các quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và hành vi của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đều đúng quy định pháp luật, những người tham gia tố tụng không có khiếu nại hoặc có ý kiến nào khác phản đối các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và hành vi của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng nên các quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và hành vi của người có thẩm quyền của người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[2] Lời khai và nhận tội của bị cáo Nguyễn Vũ L tại phiên tòa là phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra và phù hợp với biên bản khám nghiệm tử thi, biên bản khám nghiệm hiện trường, phù hợp với kết luận giám định pháp y và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thể hiện: Bị cáo Nguyễn Vũ L điều khiển xe ô tô biển số 84L - 4855 vượt xe trong trường hợp đường không đảm bảo an toàn cho việc vượt nên xảy ra va chạm với xe mô tô biển số 84M1-112.53 do ông Nguyễn Văn N điều khiển đi theo hướng cùng chiều. Hậu quả là ông Nguyễn Văn N đã tử vong trong quá trình cấp cứu tại bệnh viện đa khoa tỉnh Trà Vinh. Hành vi của Nguyễn Vũ L đã vi phạm đến an toàn giao thông đường bộ nên phải chịu trách nhiệm trước pháp luật.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội vì đã xâm phạm đến tính mạng của con người, tác động xấu đến tình hình trật tự an toàn giao thông ở địa phương, bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, làm nghề tài xế. Tuy nhiên, khi tham gia giao thông bị cáo đã không tuân thủ quy định của Luật giao thông đường bộ đã vượt xe trong trường hợp đường không đảm bảo an toàn cho việc vượt dẫn đến xảy ra va chạm với xe mô tô cho ông N đi củng chiều làm cho ông N tử vong. Nên cần phải xử phạt bị cáo với mức án tương xứng với hành vi vi phạm mà bị cáo đã gây ra cho bị hại.

[4] Quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải hành vi phạm tội của mình, chưa có tiền án, tiền sự, bị cáo đã tự nguyện đến gia đình bị hại bồi thường 60.000.000 đồng, đại diện hợp pháp của bị hại miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo, bị cáo có người thân là người có công với cách mạng, nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[5] Sau khi xem xét, đánh giá tính chất và mức độ hành vi phạm tội cũng như nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét thấy bị cáo là người có thân nhân tốt, phạm tội lần đầu với lỗi vô ý. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự trong khi lại có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng và có khả năng tự cải tạo nên việc cho bị cáo được hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội; không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Đối chiếu với các quy định tại Điều 2 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối Cao thì bị cáo đủ điều kiện được hưởng án treo. Vì vậy, không cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội, cho bị cáo cải tạo tại địa phương cũng có tác dụng giáo dục bị cáo thành người có ích cho xã hội.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Đại diện hợp pháp của bị hại đã nhận tiền bồi thường của bị cáo và không có yêu cầu gì nên không xem xét giải quyết.

[7] Về phần mua bảo hiểm xe ô tô tải biển số 84L – 4855 bị cáo tự thỏa thuận với công ty bảo hiểm không có yêu cầu nên không xem xét giải quyết .

[8] Về án phí: Bị cáo không thuộc trường hợp được miễn nộp án phí giảm án phí và không thuộc trường hợp không phải nộp án phí nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Vũ L phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Vũ L 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 năm 06 tháng.Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Nguyễn Vũ L cho Ủy ban nhân dân phường A, thị xã D, tỉnh Trà Vinh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Về trách nhiệm dân sự: Đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về quy định về mức thi, miễn, giảm, thu thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Vũ L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với người đại diện hợp pháp của bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Ánh vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ nhận được tống đạt bản án hoặc niêm yết công khai.


49
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về