Bản án 02/2019/LĐ-ST ngày 27/03/2019 về tranh chấp sổ bảo hiểm xã hội

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TU, TỈNH BÌNH DƯƠNG

BẢN ÁN 02/2019/LĐ-ST NGÀY 27/03/2019 VỀ TRANH CHẤP SỔ BẢO HIỂM XÃ HỘI

Ngày 27 tháng 3 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã TU, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án Lao động thụ lý số 143/2018/TLST-LĐ ngày 04 tháng 12 năm 2018 về việc “Tranh chấp sổ bảo hiểm xã hội và tiền bảo hiểm xã hội” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2019/QĐXXST-LĐ ngày 20 tháng 02 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 01/2019/QĐST-LĐ ngày 11 tháng 3 năm 2019, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Cao Hồng Th, sinh năm: 1974; địa chỉ thường trú: Ấp 1, xã L, huyện T, tỉnh Đồng Nai; tạm trú: Tổ 4, ấp Tân Hóa, xã Tân Vĩnh Hiệp, thị xã TU, tỉnh Bình Dương; có mặt.

- Bị đơn: Công ty TNHH GB; địa chỉ: Tổ 4, Khu phố 7, phường U, thị xã TU, tỉnh Bình Dương.

Người đại diện hợp pháp: G, sinh năm: 1963; chức danh: Chủ tịch Hội đồng thành viên kiêm Tổng Giám đốc công ty; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện đề ngày 03 tháng 10 năm 2018 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Cao Hồng Th trình bày:

Bà Cao Hồng Th làm việc tại Công ty TNHH GB từ ngày 13/4/2015. Hai bên ký kết các Hợp đồng lao động số 100627/2015/HĐLĐ-ITN ngày 01/8/2015 1 và số 100627/HĐLĐ ngày 01/8/2016. Theo hợp đồng lao động thì bà Cao Hồng Th làm việc tại bộ phận chuyền 4 với công việc là thợ may, lương hàng tháng là 3.400.000 đồng. Năm 2016, lương cơ bản tăng lên 3.800.000 đồng. Ngoài ra, còn có các khoản phụ cấp, tiền thưởng sản phẩm và các chế độ phúc lợi khác.

Quá trình làm việc, bà Th luôn chấp hành nội quy lao động của công ty, không bị lập biên bản xử lý kỷ luật lao động nào. Ngày 10/11/2017, bà Th nhận được quyết định cho thôi việc theo đơn xin nghỉ việc của bà Th đã gửi cho công ty trước đó. Từ ngày nhận quyết định cho thôi việc đến nay bà Cao Hồng Th đã nhiều lần liên hệ và đến công ty TNHH GB để lấy sổ bảo hiểm xã hội nhưng công ty chỉ hứa hẹn mà không chịu trả sổ bảo hiểm.

Việc không trả sổ bảo hiểm của Công ty TNHH GB làm ảnh hưởng đến việc hưởng chế độ bảo hiểm thất nghiệp của bà Cao Hồng Th. Do đó, bà Th yêu cầu Toà án giải quyết:

- Buộc Công ty TNHH GB phải trả lại sổ bảo hiểm xã hội cho bà Cao Hồng Th.

- Buộc Công ty TNHH GB bồi thường cho bà Cao Hồng Th 03 tháng tiền bảo hiểm xã hội mà Công ty TNHH GB chưa tham gia nộp cho bà Th từ tháng 8/2018 đến tháng 10/2018 như sau: Mức lương đóng bảo hiểm xã hội là 4.012.500 đồng; mức đóng bảo hiểm xã hội là 32%/tháng là: 4.012.500 đồng x 32% x 3 tháng = 3.852.000 đồng.

- Buộc Công ty TNHH GB bồi thường khoản trợ cấp thất nghiệp cho bà Cao Hồng Th như sau: Mức lương đóng bảo hiểm xã hội là 4.012.500 đồng; thời gian hưởng trợ cấp là 3 tháng; số tiền hưởng trợ cấp là: 4.012.500 đồng x 3 tháng x 60% = 7.222.500 đồng.

Tại phiên toà nguyên đơn bà Cao Hồng Th trình bày như sau:

- Xin rút yêu cầu buộc Công ty TNHH GB bồi thường khoản trợ cấp thất nghiệp với số tiền 7.222.500 đồng.

- Yêu cầu Toà án buộc Công ty TNHH GB phải trả lại sổ bảo hiểm xã hội.

- Yêu cầu Toà án buộc Công ty TNHH GB phải nộp vào quỹ bảo hiểm xã hội khoản tiền bảo hiểm xã hội mà công ty đã thu của bà Cao Hồng Th nhưng chưa nộp vào quỹ bảo hiểm xã hội kể từ tháng 8 năm 2017 đến tháng 10 năm 2017 với số tiền 3.852.000 đồng.

Bị đơn Công ty TNHH GB được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần tham gia tố tụng tại Tòa án nhưng vắng mặt không lý do, không giao nộp văn bản ghi ý kiến trình bày với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã TU phát biểu tại phiên tòa:

- Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, những người tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng đã chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự; Thẩm phán xác định quan hệ pháp luật đúng theo quy định tại Điều 32 Bộ luật Tố tụng dân sự và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã TU.

- Về nội dung:

Tại phiên toà, nguyên đơn bà Cao Hồng Th xin rút yêu cầu buộc Công ty TNHH GB bồi thường khoản trợ cấp thất nghiệp với số tiền 7.222.500 đồng. Xét thấy việc xin rút yêu cầu của nguyên đơn là tự nguyện, phù hợp pháp luật nên đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ giải quyết yêu cầu này.

Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn yêu cầu Toà án buộc Công ty TNHH GB phải trả lại số tiền bảo hiểm xã hội đã thu 03 tháng với số tiền 3.852.000 đồng. Tuy nhiên, tại phiên toà nguyên đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện là buộc bị đơn Công ty TNHH GB phải nộp vào quỹ bảo hiểm xã hội khoản tiền bảo hiểm xã hội đã thu nhưng chưa nộp vào quỹ bảo hiểm xã hội kể từ tháng 8 năm 2017 đến tháng 10 năm 2017 với số tiền 3.852.000 đồng. Xét, việc thay đổi yêu cầu nêu trên của nguyên đơn là phù hợp pháp luật nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.

Đi với yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc Công ty TNHH GB phải trả lại sổ bảo hiểm xã hội là có căn cứ, phù hợp pháp luật nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng:

[1.1]. Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn bà Cao Hồng Th khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết về tranh chấp sổ bảo hiểm xã hội và tiền bảo hiểm xã hội đối với bị đơn Công ty TNHH GB. Theo kết quả xác minh ngày 22/01/2019 của Tòa án tại Ủy ban nhân dân phường U thì Công ty TNHH GB có trụ sở và đang hoạt động sản xuất tại Tổ 4, Khu phố 7, phường U, thị xã TU, tỉnh Bình Dương. Như vậy, theo quy định tại Điều 32, Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã TU.

[1.2]. Về việc vắng mặt của bị đơn: Tòa án đã triệu tập các đương sự tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng người đại diện theo pháp luật của bị đơn vắng mặt nhiều lần nên không thể tiến hành được. Bị đơn đã nhận được quyết định đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên toà nhưng vắng mặt lần thứ hai không có lý do chính đáng. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.3]. Đối với việc thay đổi yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn từ yêu cầu Công ty TNHH GB phải bồi thường 03 tháng tiền bảo hiểm xã hội với số tiền 3.852.000 đồng thành yêu cầu buộc bị đơn Công ty TNHH GB phải nộp vào quỹ bảo hiểm xã hội khoản tiền bảo hiểm xã hội đã thu kể từ tháng 8 năm 2017 đến tháng 10 năm 2017 với số tiền 3.852.000 đồng. Xét, việc thay đổi yêu cầu khởi kiện nêu trên của nguyên đơn không thuộc trường hợp vượt quá yêu cầu khởi kiện nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[3]. Về nội dung:

[3.1]. Đối với yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn bồi thường trợ cấp thất nghiệp. Tại phiên toà, nguyên đơn bà Cao Hồng Th xin rút yêu cầu buộc Công ty TNHH GB bồi thường khoản trợ cấp thất nghiệp với số tiền 7.222.500 đồng. Xét thấy việc xin rút yêu cầu của nguyên đơn là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp pháp luật. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 217 và khoản 2 Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử đối với yêu cầu này của nguyên đơn.

[3.2]. Đối với yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc bị đơn Công ty TNHH GB phải trả lại sổ bảo hiểm xã hội, Hội đồng xét xử thấy:

Bị đơn vắng mặt và không giao nộp văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại Công văn số 28/CV-ĐKKD ngày 14/01/2019 của Phòng đăng ký kinh doanh, Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Bình Dương cung cấp thông tin như sau: Theo Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp số 3700746991 (cấp đổi nội dung đăng ký kinh doanh trên Giấy chứng nhận đầu tư số 461023000003, từ ngày 12/10/2015; tên cũ: Công ty TNHH Inter Neip Việt Nam) thì hiện tại Công ty TNHH GB có địa chỉ trụ sở chính tại Khu phố 7, phường U, thị xã TU, tỉnh Bình Dương; theo thông tin đăng ký thay đổi lần thứ 10 ngày 07/3/2016 thì người đại diện theo pháp luật của Công ty là bà G, hộ chiếu nước ngoài số M57136355 ngày 30/7/2015 do Bộ Ngoại giao Hàn Quốc cấp; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: #27, 24-41, Jungbu-Daero 2401 Beon-gil, Yangji-myeon, Cheoin-gu, Yongin-si, Gyeonggi-do, Hàn Quốc; chỗ ở hiện tại: Khu phố 7, phường U, thị xã TU, tỉnh Bình Dương. Đến thời điểm hiện tại theo thông tin lưu trữ và cập nhật tại Phòng Đăng ký kinh doanh thì Công ty TNHH GB vẫn hoạt động bình thường và chưa làm các thủ tục giải thể, sáp nhập, chia tách hay tạm ngưng hoạt động.

Theo nội dung hợp đồng lao động do nguyên đơn giao nộp cho Toà án thể hiện giữa nguyên đơn bà Cao Hồng Th và Công ty TNHH GB có thiết lập quan hệ lao động.

Theo quy định tại Điều 47 Bộ luật lao động thì: “Người sử dụng lao động có trách nhiệm hoàn thành thủ tục xác nhận và trả lại sổ bảo hiểm xã hội và những giấy tờ khác mà người sử dụng lao động đã giữ lại của người lao động”.

Tại Công văn số 127/CV-BHXH ngày 06/9/2018 của Bảo hiểm xã hội thị xã TU xác định: Công ty TNHH GB đóng bảo hiểm xã hội cho bà Cao Hồng Th từ tháng 8/2015 đến tháng 7/2017. Tuy nhiên, Công ty TNHH GB chưa hoàn thành thủ tục xác nhận và trả lại sổ bảo hiểm xã hội cho bà Cao Hồng Th.

Như vậy, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, phù hợp pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[3.3]. Đối với yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc bị đơn Công ty TNHH GB phải nộp vào quỹ bảo hiểm xã hội khoản tiền bảo hiểm xã hội đã thu của bà Cao Hồng Th nhưng chưa nộp vào quỹ bảo hiểm xã hội kể từ tháng 8 năm 2017 đến tháng 10 năm 2017 với số tiền 3.852.000 đồng, Hội đồng xét xử thấy:

Theo phiếu trả lương tháng 10/2017 của Công ty TNHH GB do nguyên đơn giao nộp cho Toà án thì Công ty TNHH GB vẫn trừ các khoản tham gia đóng bảo hiểm xã hội của bà Th từ tháng 8/2017 đến tháng 10/2017.

Tuy nhiên, tại Công văn số 127/CV-BHXH ngày 06/9/2018 của Bảo hiểm xã hội thị xã TU thể hiện: Công ty TNHH GB đóng bảo hiểm xã hội cho bà Cao Hồng Th từ tháng 8/2015 đến tháng 7/2017.

Như vậy, yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc bị đơn Công ty TNHH GB phải nộp vào quỹ bảo hiểm xã hội các khoản tiền bảo hiểm xã hội đã thu của bà Th từ tháng 7/2017 đến tháng 10/2017 nhưng chưa nộp vào quỹ bảo hiểm xã hội là có căn cứ chấp nhận.

[3.3] Xét, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4]. Về án phí lao động sơ thẩm: Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án thì bị đơn phải chịu án phí lao động sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ vào các Điều 33, 35, 39, 147, 227, 228, 266, 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ vào các Điều 6, 47 và 186 của Bộ luật Lao động;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án.

Tuyên xử:

1. Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Cao Hồng Th về việc buộc bị đơn Công ty TNHH GB bồi thường khoản trợ cấp thất nghiệp.

2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Cao Hồng Th về việc buộc bị đơn Công ty TNHH GB phải nộp khoản tiền bảo hiểm xã hội đã thu của nguyên đơn vào quỹ bảo hiểm xã hội.

Buộc Công ty TNHH GB phải nộp vào quỹ bảo hiểm xã hội thuộc Bảo hiểm xã hội thị xã TU số tiền đã thu của bà Cao Hồng Th kể từ tháng 8/2017 đến tháng 10/2017 như sau: Mức lương đóng bảo hiểm xã hội là 4.012.500 đồng, mức tham gia đóng bảo hiểm xã hội là 32%/tháng, số tiền đóng là 3.852.000 đồng.

3. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Cao Hồng Th đối với bị đơn Công ty TNHH GB về việc: “Tranh chấp sổ bảo hiểm xã hội”.

Buộc Công ty TNHH GB phải trả lại sổ bảo hiểm xã hội cho bà Cao Hồng Th.

4. Về án phí lao động sơ thẩm:

4.1 Bà Cao Hồng Th được miễn toàn bộ án phí lao động.

4.2 Công ty TNHH GB phải chịu 600.000 đồng (Sáu trăm nghìn đồng) án phí lao động sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo:

5.1 Nguyên đơn có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

5.2 Bị đơn vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.


129
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 02/2019/LĐ-ST ngày 27/03/2019 về tranh chấp sổ bảo hiểm xã hội

Số hiệu:02/2019/LĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Tân Uyên - Bình Dương
Lĩnh vực:Lao động
Ngày ban hành: 27/03/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về