Bản án 02/2019/HSST ngày 23/01/2019 về tội đánh bạc

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƯ JÚT, TỈNH ĐĂK NÔNG

BẢN ÁN 02/2019/HSST NGÀY 23/01/2019 VỀ TỘI ĐÁNH BẠC

Ngày 23 tháng 01 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cư Jút, Tòa án nhân dân huyện Cư Jút xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 55/2018/HSST ngày 07 tháng 12 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2019/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 01 năm 2019 đối với bị cáo:

Lưu Thị Đ, sinh năm 1979 tại Thái Nguyên; Nơi cư trú: Thôn 07, xã C, huyện C, tỉnh Đăk Nông; Dân tộc: Tày; Trình độ học vấn: 5/12; Nghề nghiệp: Kinh doanh; Con ông Lưu Văn Q (đã chết) và bà Lâm Thị X; Chồng Nguyễn Trung T (đã chết) và 01 con sinh năm 1999, hiện tại tại ngoại theo lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Cư Jut, tỉnh Đắk Nông - (có mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Anh Bùi Đức T, sinh năm 1976. Cư trú: Tổ dân phố 02, thị trấn E, huyện C, tỉnh Đăk Nông (vắng mặt)

2. Anh Lê Ngọc T, sinh năm 1983. Cư trú: Thôn 02, xã N, huyện C, tỉnh Đăk Nông (vắng mặt)

3. Anh Lộc Đức L, sinh năm 1991. Cư trú: Thôn 11, xã C, huyện C, tỉnh Đăk Nông (có mặt)

4. Anh Đặng Văn X, sinh năm 1963. Cư trú: Thôn 08, xã C, huyện C, tỉnh Đăk Nông (có mặt)

5. Anh Vi Văn N, sinh năm 1974. Cư trú: Thôn 11, xã C, huyện C, tỉnh Đăk Nông (có mặt)

6. Anh Cao Văn Q, sinh năm 1983. Cư trú: Thôn 02, xã T, huyện C, tỉnh Đăk Nông (có mặt)

7. Anh Trần Anh T, sinh năm 1967. Thôn 07, xã T, huyện C, tỉnh Đăk Nông (có mặt)

8. Cháu Đinh Hoàng T, sinh ngày 25/02/2001. Cư trú: Thôn 07, xã C, huyện C, tỉnh Đăk Nông (vắng mặt)

Người đại diện hợp pháp: Bà Đàm Thúy S (Mẹ đẻ của cháu T). Cư trú: Thôn 07, xã C, huyện C, tỉnh Đăk Nông (vắng mặt)

- Người làm chứng:

1. Chị Nguyễn Thị Kim H, sinh năm 1999. Cư trú: Thôn 07, xã C, huyện C, tỉnh Đăk Nông (vắng mặt)

2. Anh Ma Công Đ, sinh năm 1972 . Cư trú: Thôn 07, xã C, huyện C, tỉnh Đăk Nông (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng từ 10 giờ 45 phút đến 15 giờ 30 phút ngày14/6/2018, bị cáo Lưu Thị Đ có công việc đi ra ngoài nên nhờ Đinh Hoàng T trông coi quán cà phê và ghi lô đề kết quả xổ số kiến thiết (gọi tắt là đài) các tỉnh, miền để giúp Đại tại nhà ở thôn 07, xã C, huyện C, tỉnh Đăk Nông thì T đồng ý và đã nhận ghi lô, đề cho một số người.

Đến khoảng 16 giờ cùng ngày (sau khi Đ về), thì có Cao Văn Q và Trần Anh T đến hỏi Đinh Hoàng T ghi lô, đề thì T đồng ý và ghi như sau: Cao Văn Q ghi lô, đề ngày 14/6/2018 đài tỉnh Bình Định với số tiền 900.000đ (chín trăm nghìn đồng), đài tỉnh Quảng Bình với số tiền 900.000đ (chín trăm nghìn đồng); Trần Anh T ghi lô, đề ngày 14/6/2018 đài tỉnh Bình Định với số tiền 940.000đ (chín trăm bốn mươi nghìn đồng), đài tỉnh Quảng Bình với số tiền 660.000đ (sáu trăm sáu mươi nghìn đồng). Cao Văn Q và Trần Anh T ghi các số lô, đề đài đã chọn vào 01 (một) lá bài, 01 (một) mảnh giấy ô ly và đưa tiền cho T để đưa cho Đ. Khi Đ nhận tiền và viết các số lô, đề đài mà Q, T đã chọn vào 02 (hai) mảnh giấy ô ly để đưa cho Q, T thì bị Công an huyện Cư Jut bắt quả tang. Hình thức đánh bạc. Ghi số lô là người chơi chọn số tự nhiên bất kỳ có hai chữ số hoặc ba chữ số ghi với người làm cái và bao toàn bộ hai số hoặc ba số cuối của các giải thưởng trong kết quả đài xổ số kiến thiết người chơi chọn ngày hôm đó và người chơi có thể đặt cược nhiều số khác nhau. Khi có kết quả Xổ số kiến thiết người chơi chọn ngày hôm đó, nếu có hai số (hoặc ba số) cuối của bất kỳ kết quả nào trong lô giải thưởng đó trùng với hai số (hoặc ba số) người chơi đã ghi thì người chơi sẽ thắng. Khi chọn số có hai chữ số bao lô thì tỉ lệ 01 điểm ăn 70.000đ (Bảy mươi nghìn đồng), khi bao lô số có 03 chữ số thì tỉ lệ 01 điểm ăn 700.000đ (Bảy trăm nghìn đồng). Đối với đài miền Bắc thì 01 điểm tương ứng với số tiền 22.000đ (hai mươi hai nghìn đồng), đối với đài xổ số các tỉnh miền Trung (Đà Nẵng, Quảng Nam, Đắk Lắk, Khánh Hòa, Quảng Bình, Bình Định...) thì 01 điểm tương ứng 14.000đ (Mười bốn nghìn đồng) hoặc 15.000đ (Mười lăm nghìn đồng). Chơi đánh bạc bằng hình thức đánh đề là người chơi chọn số tự nhiên bất kỳ có hai hoặc ba chữ số và đài xổ số kiến thiết muốn ghi cá cược với người làm cái. Khi có kết quả Xổ số kiến thiết ngày hôm đó mà người chơi chọn, thì dò tương ứng với hai (hoặc ba) số cuối của giải Đặc biệt kết quả Xổ số kiến thiết ngày hôm đó. Nếu người chơi ghi hai (hoặc ba) chữ số trùng với hai (hoặc ba) số cuối của giải Đặc biệt thì người chơi sẽ thắng và nhà cái phải chung số tiền tỉ lệ 01 ăn 70 (1000đ thắng được 70.000đ) nếu chọn số có hai chữ số, 01 ăn 500 (1000đ ăn được 500.000đ) còn nếu thua thì người chơi sẽ thua toàn bộ số tiền bỏ ra ghi cá cược ngày hôm đó.

Quá trình điều tra xác định được: Lưu Thị Đ nhận ghi số lô, đề trực tiếp hoặc qua điện thoại từ khoảng đầu tháng 6/2018. Đinh Hoàng T ở gần nên thường hay qua nhà Đ chơi. Thỉnh thoảng khi Đ đi ra ngoài hoặc vắng nhà thì Đ nhờ Đinh Hoàng T đến trông nhà và ghi số lô, đề giúp; ngoài ra, thỉnh thoảng, khi Đ ở nhà mà bận việc thì Đ nhờ con gái là Nguyễn Thị Kim H ghi lô, đề giúp. Đ không chia lợi nhuận hay hứa hẹn gì khác với T và H về việc giúp Đ ghi lô, đề. Mỗi lần có người chơi đến ghi lô, đề thì Đ, T hoặc H viết số lô, đề vào 01 (một) quyển vở học sinh màu hồng để lưu và viết lại vào 01 (một) mảnh giấy vở học sinh để đưa cho người chơi. Khi có kết quả thì người chơi trúng lô, đề sẽ đưa mảnh giấy đã ghi lô, đề trước đó cho Đ để nhận tiền. Kết quả ghi lô, đề từ khoảng đầu tháng 6/2018 đến ngày 10/6/2018 trong quyển vở học sinh màu hồng thì Đ đã xé bỏ, Đ không nhớ đã thắng thua bao nhiêu tiền cụ thể:

Vào ngày 11/6/2018: Đài miền Bắc: Lưu Thị Đ 7.690.000đ (bảy triệu sáu trăm chín mươi nghìn đồng), Đinh Hoàng T 95.000đ (chín mươi lăm nghìn đồng), Nguyễn Thị Kim H 3.106.000đ (ba triệu một trăm lẻ sáu nghìn đồng);

Vào ngày 12/6/2018: Đài miền Bắc: Lưu Thị Đ 12.700.000đ (mười hai triệu bảy trăm nghìn đồng), Đinh Hoàng T 2.422.000đ (hai triệu bốn trăm hai mươi hai nghìn đồng), Lộc Đức L 80.000đ (tám mươi nghìn đồng) Đài tỉnh Đăk Lăk: Lưu Thị Đ 2.457.000đ (hai triệu bốn trăm năm mươi bảy nghìn đồng), Đinh Hoàng T 757.000đ (bảy trăm năm mươi bảy nghìn đồng), Nguyễn Thị Kim H 160.000đ (một trăm sáu mươi nghìn đồng), Lộc Đức L 10.000đ (mười nghìn đồng) Đài tỉnh Quảng Nam: Lưu Thị Đ 350.000đ (ba trăm năm mươi nghìn đồng), Đinh Hoàng T 10.000đ (mười nghìn đồng), Nguyễn Thị Kim H 160.000đ (một trăm sáu mươi nghìn đồng), Lộc Đức L 10.000đ (mười nghìn đồng) Vào ngày 13/6/2018: Bùi Đức T sử dụng số tiền 3.560.000đ (ba triệu năm trăm sáu mươi nghìn đồng) nhưng không xác định được chính xác số tiền sử dụng của từng đài (miền Bắc, Khánh Hòa, Đà Nẵng).

Đài miền Bắc: Lưu Thị Đ 11.582.000đ (mười một triệu năm trăm tám mươi hai nghìn đồng), Đinh Hoàng T 100.000đ (một trăm nghìn đồng), Nguyễn Thị Kim H 1.106.000đ (một triệu một trăm lẻ sáu nghìn đồng), Lộc Đức L 210.000đ (hai trăm mười nghìn đồng) Đài TP.Đà Nẵng: Lưu Thị Đ 11.159.000đ (mười một triệu một trăm năm mươi chín nghìn đồng), Lộc Đức L 10.000đ (mười nghìn đồng) Đài tỉnh Khánh Hòa: Lưu Thị Đ 2.400.000đ (hai triệu bốn trăm nghìn đồng), Lộc Đức L 10.000đ (mười nghìn đồng) Vào ngày 14/6/2018: Đài miền Bắc: Lưu Thị Đ 1.690.000đ (một triệu sáu trăm chín mươi nghìn đồng), Đinh Hoàng T 910.000đ (chín trăm mười nghìn đồng), Đặng Văn X 780.000đ (bảy trăm tám mươi nghìn đồng), Lộc Đức L 340.000đ (ba trăm bốn mươi nghìn đồng).

Đài tỉnh Bình Định: Lưu Thị Đ 6.180.000đ (sáu triệu một trăm tám mươi nghìn đồng), Đinh Hoàng T 3.350.000đ (ba triệu ba trăm năm mươi nghìn đồng), Cao Văn Q 900.000đ (chín trăm nghìn đồng), Trần Anh T 940.000đ (chín trăm bốn mươi nghìn đồng), Lê Ngọc T 1.510.000đ (một triệu năm trăm mười nghìn đồng), Bùi Đức T 2.800.000đ (hai triệu tám trăm nghìn đồng), Lộc Đức L 10.000đ (mười nghìn đồng) Đài tỉnh Quảng Bình: Lưu Thị Đ 3.695.000đ (ba triệu sáu trăm chín mươi lăm nghìn đồng), Đinh Hoàng T 1.560.000đ (một triệu năm trăm sáu mươi nghìn đồng), Cao Văn Q 900.000đ (chín trăm nghìn đồng), Trần Anh T 660.000đ (sáu trăm sáu mươi nghìn đồng), Bùi Đức T 2.100.000đ (hai triệu một trăm nghìn đồng), Lộc Đức L 35.000đ (ba mươi lăm nghìn đồng).

Như vậy, ngày 11/6/2018 Lưu Thị Đ thắng được số tiền 1.250.000đ (một triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng); vào ngày 12/6/2018 thắng được số tiền 5.007.000đ (năm triệu không trăm lẻ bảy nghìn đồng); vào ngày 13/6/2018, Đ thua số tiền 2.859.000đ (hai triệu tám trăm năm mươi chín nghìn đồng); vào ngày 14/6/2018, Đ nhận ghi số tiền 11.565.000đ (mười một triệu năm trăm sáu mươi lăm nghìn đồng) (trong đó: Bùi Đức T chưa đưa 4.900.000đ, Đặng Văn X chưa đưa 420.000đ, Lộc Đức L chưa đưa 385.000đ).

-Hành vi phạm tội đánh bạc của bị cáo Lưu Thị Đ cụ thể:

Vào khoảng từ ngày 11/6/2018 đến 16 giờ 20 phút ngày 14/6/2018, tại nhà ở thôn 07, xã C, huyện C, tỉnh Đăk Nông; Lưu Thị Đ đã có hành vi đánh bạc được thua bằng tiền bằng hình thức ghi số lô, đề thì bị Cơ quan CSĐT Công an huyện Cư Jút bắt quả tang cụ thể:

Ngày 11/6/2018, đài miền Bắc là 7.690.000đ (bảy triệu sáu trăm chín mươi nghìn đồng) Ngày 12/6/2018, đài miền Bắc là 12.700.000đ (mười hai triệu bảy trăm nghìn đồng) Ngày 13/6/2018: đài miền Bắc là 11.582.000đ (mười một triệu năm trăm tám mươi hai nghìn đồng) và đài TP.Đà Nẵng là 11.159.000đ (mười một triệu một trăm năm mươi chín nghìn đồng) Ngày 14/6/2018, đài Bình Định là 6.180.000đ (sáu triệu một trăm tám mươi nghìn đồng).

Tổng số tiền bị cáo Đ dùng vào mục đích đánh bạc là: 49.311.000đ (bốn mươi chín triệu ba trăm mười một nghìn đồng).

Bản cáo trạng số 53/CTr-VKS ngày29/11/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư Jút đã truy tố bị cáo về tội Đánh bạc, quy định tại khoản 1 Điều 321 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo như tại bản cáo trạng số 53/CTr-VKS ngày29/11/2019. Sau khi phân tích các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội Đánh bạc, quy định tại khoản 1 Điều 321 điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 35 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Lưu Thị Đ từ 40.000.000đ (bốn mươi triệu đồng) đến 50.000.000đ (năm mươi triệu đồng) Về vật chứng: Đề nghị HĐXX chấp nhận việc cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Cư jut trả lại cho Đinh Hoàng T số tiền 80.000đ (tám mươi nghìn đồng), trả lại cho Lưu Thị Đ tổng số tiền 6.130.000đ (sáu triệu một trăm ba mươi nghìn đồng).

Đề nghị Hội đồng xét xử trả cho anh Bùi Đức T 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Itel, bàn phìm màu xanh dương, vỏ màu xanh đen; Trả cho anh Lộc Đức L 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J3 2016;

Tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 10.763.000đ (mười triệu bảy trăm sáu mươi ba nghìn đồng) do bị cáo đánh bạc; Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu trắng của bị cáo dùng liên lạc vào việc phạm tội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] . Về hành vi tố tụng của Điều tra viên, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Cư Jút, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư Jút, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Hội đồng xét xử xét thấy lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra với các tình tiết khách quan, phù hợp với diễn biến sự việc, phù hợp với kết luận giám định, phù hợp với tài liệu chứng cứ có lưu trong hồ sơ vụ án.

[2]. Đối với hành vi của bị cáo: Khoảng từ ngày 11/6/2018 đến 16 giờ 20 phút ngày 14/6/2018, tại nhà ở của bị cáo (thôn 07, xã C, huyện C, tỉnh Đăk Nông) bị cáo đã có hành vi đánh bạc được thua bằng tiền bằng hình thức ghi số lô, đề thì bị Cơ quan CSĐT Công an huyện Cư Jút bắt quả tang, cụ thể:

Ngày 11/6/2018 đài miền Bắc là 7.690.000đ (bảy triệu sáu trăm chín mươi nghìn đồng) Ngày 12/6/2018 đài miền Bắc là 12.700.000đ (mười hai triệu bảy trăm nghìn đồng) Ngày 13/6/2018 đài miền Bắc là 11.582.000đ (mười một triệu năm trăm tám mươi hai nghìn đồng) và đài TP.Đà Nẵng là 11.159.000đ (mười một triệu một trăm năm mươi chín nghìn đồng) Ngày 14/6/2018 đài Bình Định là 6.180.000đ (sáu triệu một trăm tám mươi nghìn đồng). Tổng số tiền dùng vào mục đích đánh bạc là: 49.311.000đ (bốn mươi chín triệu ba trăm mười một nghìn đồng), Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình là từ ngày11/6/2018 đến ngày 14/6/2018 bị cáo có hành vi đánh bạc bằng hình thức ghi số đề từ hai lần trở lên tổng số tiền bị cáo tham gia đánh bạc 49. 311.000đ bị công an huyện Cư Jut bắt qủa tang là vi phạm pháp luật.

Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, biết được hành đánh bạc hình thức ghi lô đề là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện do vậy Viện Kiểm sát nhân dân huyện Cư Jut truy tố về tội đánh bạc là đúng không oan.

Điều 321 Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.” Xét thấy tính chất, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự an ninh tại địa phương, gây dư luận bất bình trong nhân dân, gây bức xúc cho cộng đồng dân cư xung quanh và cho người thân của bị cáo, bị cáo đã tham gia đánh bạc hình thức làm chủ ghi số đề ăn tiền từ 02 lần trở lên, do vậy cần áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS năm 2015(sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Về tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xét thấy không cần thiết áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo, mà cần áp dụng hình phạt chính là hình phạt tiền quy định tại điều 35 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) cũng đủ răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Đối với Đinh Hoàng T, Nguyễn Thị Kim H có hành vi giúp bị cáo ghi số lô, đề; Cao Văn Q, Trần Anh T, Lê Ngọc T, Bùi Đức T, Đặng Văn X, Lộc Đức L, có hành vi đánh bạc ghi lô đề, tuy nhiên do số tiền dùng để đánh bạc chưa đủ để cấu thành tội phạm và chưa có tiền án, tiền sự về hành vi đánh bạc nên ngày 18/10/2018 Công an huyện Cư Jut ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền mỗi người 350.000đ (ba trăm năm mươi nghìn đồng), đối với Đinh Hoàng T xử phạt 175.000đ (một trăm bảy mươi lăm nghìn đồng) là phù hợp.

Đối với hành vi làm chủ đề của bị cao trong các ngày 12/6/2018 (Đài tỉnh Đăk Lăk và Quảng Nam), ngày 13/6/2018 (Đài tỉnh Khánh Hòa), ngày 14/6/2018 (Đài miền Bắc và tỉnh Quảng Bình); tuy nhiên số tiền dùng để đánh bạc của mỗi lô đề chưa đủ định lượng, đồng thời bị cáo chưa có tiền án, tiền sự về hành vi đánh bạc nên không cấu thành tội phạm.

Về vật chứng: Đối với số tiền 6.130.000đ (sáu triệu một trăm ba mươi nghìn đồng), bị cáo không dùng vào mục đích đánh bạc nên chấp nhận việc cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Cư Jut trả lại cho bị cáo; đối với số tiền 80.000đ (tám mươi nghìn đồng) của Đinh Hoàng T không dùng vào mục đích đánh bạc nên cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Cư Jut trả lại cho Đinh Hoàng T.

Trả cho anh Bùi Đức T 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Itel, bàn phìm màu xanh dương, vỏ màu xanh đen; Trả cho anh Lộc Đức L 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J3 2016;

Tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 10.763.000đ (mười triệu bảy trăm sáu mươi ba nghìn đồng) do bị cáo đánh bạc; Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu trắng của bị cáo dùng liên lạc vào việc phạm tội.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Lưu Thị Đ phạm tội "đánh bạc";

Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 và Điều 35 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xử phạt bị cáo Lưu Thị Đ 50.000.000đ (năm mươi triệu đồng) hình thức nộp phạt một lần.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Chấp nhận việc Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Cư Jut trả cho Đinh Hoàng T số tiền 80.000đ (tám mươi nghìn đồng) và trả cho bị cáo Lưu Thị Đ số tiền 6.130.000đ (sáu triệu một trăm ba mươi nghìn đồng).

Trả cho anh Bùi Đức T 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Itel, bàn phìm màu xanh dương, vỏ màu xanh đen; Trả cho anh Lộc Đức L 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J3 2016;

Tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 10.763.000đ (mười triệu bảy trăm sáu mươi ba nghìn đồng) do bị cáo đánh bạc; Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại 01(một) điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu trắng của bị cáo dùng liên lạc vào việc phạm tội.

(Các vật chứng có đặc điểm như trong biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan Công an huyện Cư Jut và Chi cục thi hành án dân sự huyện C ngày 05 tháng 01 năm 2019) Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án: Buộc bị cáo Lưu Thị Đ phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm;

Quyền kháng cáo: Bị cáo, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

216
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 02/2019/HSST ngày 23/01/2019 về tội đánh bạc

Số hiệu:02/2019/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Cư Jút - Đăk Nông
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 23/01/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về